“Ôn cố tri tân”: Người Nhật khéo léo vận dụng trí huệ cổ điển Trung Hoa

Rất nhiều người Nhật khi nhìn vào thành ngữ “ôn cố tri tân” có vẻ rất ngạc nhiên: đây chẳng phải thành ngữ Trung Hoa sao? Đúng vậy, có rất nhiều thành ngữ của Nhật đều có nguồn gốc từ Trung Hoa. Vậy rốt cuộc người Nhật lý giải hàm nghĩa của thành ngữ “ôn cố tri tân” và vận dụng nó như thế nào?

Tư tưởng của Khổng Tử cũng đã truyền bá rộng rãi đến các quốc gia như Nhật Bản hay Hàn Quốc. (Tượng Khổng Tử ở Incheon, Hàn Quốc)

Xuất xứ và lý giải giống nhau

Xét về nguồn gốc, người Nhật cũng biết đến thành ngữ này từ cuốn sách “Luận Ngữ” của Khổng Tử. Có một câu trong thiên “Vi Chính” là: “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ” (Xem xét việc xưa mà biết việc nay, thì có thể làm thầy vậy). Câu này chính là bắt nguồn của thành ngữ “Ôn cố tri tân”.

Rất nhiều người có thể lý giải đại khái trên bề mặt chữ nghĩa, “ôn cố tri tân” chẳng phải là thường xuyên ôn lại những kiến thức cũ, từ đó đắc được những tri thức và thể hội mới hay sao. Nhưng nếu không thực sự xuất phát từ thực tiễn, thì sẽ không thể nào thực sự hiểu được “ôn cố tri tân”, cũng như niềm vui của việc lĩnh hội được những tri thức cổ uyên thâm này. Khổng Tử rốt cuộc vì sao lại xem trọng “ôn cố tri tân”, thậm chí còn nhấn mạnh điều đó, cho rằng biết “ôn cố tri tân” thì có thể làm bậc thầy trong thiên hạ?

Lý giải của người Nhật Bản

Người Nhật Bản qua nghiên cứu đã minh xác rằng, học vấn mà Khổng Tử dạy chính là học vấn đối nhân xử thế, học vấn làm người. Học điều thiện của người khác mà hành theo, học cách người khác nhìn nhận vấn đề, làm thế nào để suy nghĩ và giải quyết vấn đề một cách chính diện. Không biết thì hỏi, suy nghĩ rõ ràng xem tại sao phải làm người như vậy hay giải quyết việc như vậy mới là đúng, chính là nắm được và đắc được tri thức. Vậy đắc được những điều này rồi có tác dụng gì? Chính là kim chỉ nam cho cuộc sống cũng như công tác của bản thân khi gặp các vấn đề nan giải.

Nếu như là một người mẹ, bạn sẽ biết được cách dùng nhân đức để dạy dỗ con trẻ. Nếu bạn là một bậc quân vương quân chủ, bạn có thể làm được yêu dân như con, dùng lễ nghĩa đối đãi với người dưới, chiêu mộ nhân tài, xử lý chính sự, trị lý quốc gia. Cho dù có sự bất đồng về thân phận hay hoàn cảnh, địa vị, vai trò mình nắm giữ đều có thể học được trí huệ trong đó mà vận dụng, đều có thể giải quyết vấn đề.

Giữa con người với nhau, cho dù là sinh ra trong thời đại nào, sự việc cụ thể khác nhau bao nhiêu, nhưng những nguyên nhân và cách giải quyết mâu thuẫn phát sinh thường có sự tương thông với nhau. Do đó, Khổng Tử ngay từ phần đầu “Vi Chính” phức tạp nhất đã nêu ra đạo lý này, còn nhấn mạnh “ôn cố tri tân”, quan sát những bài học giáo huấn và trí huệ trong lịch sử nhân loại, mà có thể tìm ra những biện pháp và suy nghĩ giải quyết vấn đề. Nếu như có thể lấy những điều uyên bác đó vận dụng vào chỉ đạo những sự việc ngày hôm nay, đồng thời giúp đỡ khai mở con đường đi cho mọi người, vậy chẳng phải chính là trở thành bậc thầy hay sao.

“Cha đẻ của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản” và Tể tướng triều Tống

Người Nhật rất biết cách vận dụng những trí huệ cổ điển Trung Hoa vào trị lý quốc gia, chỉ đạo nhân sinh hay là việc kinh doanh công ty. Chẳng hạn như “cha đẻ của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản”, ông Shibusawa Eiichi, người đặt định cho mô hình kinh tế tư bản hàng trăm năm qua của Nhật Bản, đã từng đọc qua Tứ Thư, Ngũ Kinh, và lấy “Luận Ngữ” của Khổng Tử làm tư tưởng chỉ đạo kinh doanh cho bản thân. Ông là người khai quốc công thần trong lĩnh vực kinh doanh trong thời Minh Trị và Đại Chính, đã thành lập nên hơn 500 công ty trong các lĩnh vực khác nhau, bao gồm tài chính, sản xuất giấy và dịch vụ vận chuyển….

Năm 88 tuổi, ông viết quyển sách nổi tiếng của mình, “Luận ngữ và Bàn tính” (Analects and the Abacus), đặt định những luân lý đạo đức chỉ đạo cho mô hình kinh tế tư bản của Nhật Bản. Ông đã lấy tiêu chuẩn làm người và kinh doanh kết hợp hoàn mỹ với nhau, học từ tư tưởng Khổng Tử để tìm ra cách đối đãi chính xác với kiếm tiền. Do đó các công ty của Nhật Bản hàng trăm năm qua, cho dù là Mitsubishi, Panasonic hay những tên tuổi khác, đều đưa những giá trị quan như luân lý, thành tính và trung nghĩa dung nhập vào lý niệm của doanh nghiệp, đều đề cao việc cống hiến cho xã hội, tin rằng hoạt động kinh doanh kiếm tiền của họ chính là để dân giàu nước giàu. Chính vì vậy ông được coi là “cha đẻ của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản”.

Vào triều Tống Trung Hoa xưa có vị tể tướng tên là Triệu Phủ cũng đã lấy “Luận Ngữ” làm chỉ đạo cho việc đàm luận các vấn đề quốc gia đại sự suốt 20 năm. Hai người này, tuy quốc gia bất đồng, thời đại cũng bất đồng nhưng đều lĩnh hội chân chính giáo đạo của Khổng Tử, đều có thể học được và vận dụng được những đạo lý để truyền cho người khác.

Vận dụng tư tưởng trung dung, vận dụng các bài học giáo huấn lịch sử, vận dụng kinh nghiệm của những người đi trước để chỉ đạo bản thân, đều là thể hiện của “ôn cố tri tân”. Đọc hiểu được những tri thức cổ xưa, không chỉ có thể chỉ đạo người khác, mà còn có thể chỉ đạo chính mình, trở thành người thầy của chính mình. Những lời này của Khổng Tử, kỳ thực vô cùng quan trọng, ý nghĩa vô cùng thâm sâu: Ôn cố tri tân, chính là để bác cổ thông kim, chỉ đạo nhân sinh. Đáng tiếc là ngày nay rất ít người có thể tâm đắc sâu sắc đạo lý này.

Theo Blog Lưu Như

Xem thêm: