Cổ ngữ có câu: “Hữu duyên thiên lý lai tương hội, vô duyên đối diện bất tương thức”, ý nói có duyên thì xa ngàn dặm rồi cũng sẽ gặp, vô duyên thì ngay ở trước mặt cũng không biết nhau. Trong văn hóa truyền thống của người xưa, duyên có nội hàm và ảnh hưởng vô cùng sâu sắc.

duyên
(Hình minh họa: Qua sohu.com)

“Duyên”, “Thiện duyên” và “Ác duyên”

Từ ý nghĩa thông thường, “duyên” được hiểu là một cơ hội, cơ may, tương phùng mà con người thường không biết trước, là một chủng quan hệ tương đối lâu dài giữa người và người.

Mệnh lý học và Vị lý học truyền thống cho rằng, vạn vật trong thế gian này đều là có nhân duyên hòa hợp mà sinh. “Nhân” của loại sự việc gì sẽ có được “quả” của loại sự việc đó. Phật gia giảng, sinh mệnh sau khi chết đi sẽ trải qua lục đạo luân hồi, nguyên thần của con người là bất diệt. Sinh mệnh của con người không chỉ là trong đời này mà còn có đời trước. Hơn nữa, không chỉ là một đời trước mà còn có thể có rất nhiều đời trước. Cho nên, có một loại năng lượng không nhìn thấy được, không sờ thấy được gắn kết chặt chẽ những người có duyên từ nhiều đời lại với nhau.

Con người là thuận theo duyên mà đến thế giới này. Người nhà, người thân thích, cha mẹ, bạn bè, thầy cô giáo, người quen… mọi mối quan hệ xã hội giữa người với người đều là duyên. Trong cuộc sống, chúng ta luôn luôn gặp một số người tốt, chuyện tốt, có người trợ giúp khi khó khăn, làm việc gì cũng thông thuận nhờ có quý nhân giúp đỡ… đây được gọi là thiện duyên. Thiện duyên được kết từ trong quá khứ. Bởi vậy, khi chúng ta gặp chuyện tốt thì có thể hiểu là trong quá khứ chúng ta đã gieo một loại “thiện nhân”, cho nên bây giờ có được “thiện quả”.

Khi gặp một sự việc không tốt, gặp lúc không thông thuận, cũng có thể là bởi vì trước đây đã thiếu nợ người ta, giao ác duyên. Trong luân hồi, con người quên mất mình đã từng làm việc xấu, đã từng thiếu nợ người khác nên kiếp này gặp chuyện phiền phức thì thường sinh ra tâm oán trách. Vì vậy, khi gặp lúc không thông thuận đừng đem nguyên nhân đổ cho tại ngoại giới, oán hận vận khí của bản thân không tốt, muốn chạy trốn. Để hóa giải những oán hận, phiền phức này không có cách nào tốt hơn là đối mặt và thiện giải.

“Duyên” cũng khiến người với người mâu thuẫn với nhau, vì ân oán mà báo trả nhau. Bởi vậy, làm người tuyệt đối không thể lại làm trái đạo lý nhân quả, nên hiểu được tri ân, báo ân, nuôi dưỡng thiện niệm và từ bi.

Những sự tình và đạo lý này, trong lịch sử có ghi chép lại rất nhiều. Phàm là những người tin tưởng nhân quả thì đều sẽ tự giác chủ động làm người hành thiện tích đức. Trái lại, những người không tin nhân quả sẽ cho rằng chết là hết, giống như ngọn đèn vụt tắt. Vì vậy, họ không ngại làm việc xấu, phóng túng dâm dục, muốn làm gì liền làm đấy không quản hậu quả ra sao. Nếu quan sát và cảm nhận một cách kỹ lưỡng, chúng ta sẽ không khó để phát hiện rằng, nhân quả hiện hữu ở ngay trong cuộc sống đời thường của chúng ta.

Cả Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo truyền thống đều giảng về nhân duyên, duyên phận. Từ phương diện đạo đức mà phân tích, hàm nghĩa của thiện duyên được thể hiện chủ yếu ở duyên tu đạo, Đạo gia gọi là “Đạo duyên”, Phật gia gọi là “Pháp duyên”. Điều này là chỉ việc những người bởi vì có “nhân” là tín ngưỡng đối với Phật, Đạo nên phát sinh duyên phận tu hành.

Thiện duyên và tích duyên

duyên
(Hình minh họa: Qua kknews)

Thời cổ đại, những ví dụ về người có duyên tu Đạo, tu Phật rất nhiều. Thi sĩ Bạch Cư Dị là nhà thơ nổi tiếng triều nhà Đường. Lúc ông làm Thái Thú ở Hàng Châu nghe nói thiền sư Đạo Lâm là người đức hạnh cao, liền đến bái phỏng. Bạch Cư Dị thấy thiền sư sống trên cây tùng cao lớn dưới núi liền nói: “Sao thiền sư sống ở nơi nguy hiểm quá vậy?”

Thiền sư Đạo Lâm nói: “Nơi Thái thú sống còn nguy hiểm hơn nhiều.”

Bạch Cư Dị nghe xong không hiểu chút gì, liền nói: “Ta có gì mà nguy hiểm?”

Thiền sư Đạo Lâm nói: “Thân ở nơi quan trường như củi lửa giao tranh, nhưng những người ở trong đó lại thường thường không hiểu được. Như thế còn không nguy hiểm sao?”

Bạch Cư Dị lúc này đã phần nào hiểu được liền gật đầu nói phải. Sau đó, Bạch Cư Dị lại thỉnh giáo tiếp thiền sư Đạo Lâm: “Đạo lý nhân sinh là như thế nào?”

Thiền sư đáp: “Chớ làm các điều ác, những điều thiện nên làm.”

Bạch Cư Dị lại nói: “Đạo lý này thì đứa trẻ 3 tuổi cũng biết!”

Thiền sư Đạo Lâm đáp: “Mặc dù đứa trẻ 3 tuổi cũng biết đạo lý này, nhưng ông lão 80 tuổi cũng làm chưa xong!”

Bạch Cư Dị nghe xong, tâm phục mãi lời của thiền sư. Cũng từ đó, ông bắt đầu bước đi trên con đường tu hành. Ông không chỉ cung kính, kiên định tu hành mà còn mang hết bổng lộc của bản thân mời người tạc tượng Phật, tượng Thần, in kinh Phật khuyên mọi người hướng thiện. Ông cũng khuyên bảo mọi người tin phụng Thần Phật, tin tưởng nhân quả. Đồng thời ông cũng phát thệ nguyện dùng lời văn thơ ở thế gian để ca ngợi Thần Phật, mong kết được thiện duyên vào đời sau.

Hiền tướng Lữ Mông Chính triều đại nhà Tống cũng là người kính tín Thần Phật. Mỗi ngày ông đều tụng kinh lễ Phật, làm quan thanh liêm chính trực, gặp chuyện trái đạo lý thì dám nói. Trong “Khuyến thế ca”, ông viết: “Kính trời biết mệnh, làm nhiều việc thiện tích đức.” Mỗi lần bái Phật, ông thường nguyện: “Người không tin Phật, không sinh vào nhà ta, ước nguyện con cháu sau này đều thờ phụng Phật.” Lữ Mông Chính thường phát thiện nguyện, thiện duyên với Phật.

Duyên tu Đạo, tu Phật là chỉ những người hướng đạo, hướng thiện, chứng ngộ được các chân lý trong kiếp nhân sinh. Bách gia chư tử thời cổ đại hầu như đều giảng về “Đạo”. Trong “Đạo Đức Kinh”, ngay mở đầu, Lão Tử cũng giảng về đạo. Ngày nay, trong biển người mênh mông, thế sự rối ren giữa danh lợi tình này, có bao nhiêu người truy tìm nơi trở về cho tâm linh của mình? Có bao nhiêu người dù đã gặp trong đường đời nhưng lại lỡ mất cơ duyên của mình? Kỳ thực, duyên đến duyên đi, chỉ cách biệt ở một niệm.

An Hòa (t/h)

Xem thêm: