tài liệu về giao thương với Việt Nam trong thời Nguyễn

John Crawfurd là Thông sứ Singapore của Anh từ năm 1823 đến năm 1826, hoạt động như một nhà ngoại giao ở Đông Nam Á từ năm 1808, đã tham gia vào các sự kiện quan trọng như đàm phán Anh-Xiêm, Anh-Miến Điện, và cũng từng đến Việt Nam. Sau khi trở về Anh, ông viết nhiều cuốn sách về tình hình châu Á những năm này, trong đó có cuốn Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochin-China, exhibiting a view of the actual State of these Kingdoms (1830). Trong cuốn sách này có những ghi nhận đáng kể về tình hình Việt Nam đầu thế kỷ 19 dưới triều nhà Nguyễn:

Tôi được kể rằng không dưới 2000 chiếc thuyền tham gia con đường (buôn bán) giữa Sài Gòn và Huế, bao gồm những chiếc thuyền có phận sự của nhà nước. Chúng thường có trọng tải từ 30 tới 45 tấn, và dựa vào cấu trúc cùng sự điều khiển tốt của nó, có thể tận dụng địa hình và gió biển để du hành theo những đợt gió mùa, dù cho sự khắc nghiệt của chúng ở biển… Buôn bán đường biển được thực hiện bởi các thuyền bản địa từ 50 đến 75 tấn, có thể thực hiện 3 chuyến đi 1 năm. Có chừng 60 chiếc, và cả hai đường buôn bán này hầu như nằm riêng trong tay những người Hoa lưu trú.

Ngoại thương của Việt Nam được xúc tiến với Trung Quốc, Xiêm, và những cảng Anh quốc tại eo biển Malacca. Sự giao thiệp trong nước của họ chủ yếu giữa Bắc Kỳ và 3 tỉnh láng giềng của Trung Quốc là Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông… Tất cả các cảng của Trung Kỳ đều buôn bán nhiều hoặc ít với Trung Quốc; nhưng địa phương chính của sự giao thương này nằm ở Sài Gòn và Kẻ Chợ. Những cảng Trung Quốc mở cho giao thương này là 5 cảng của Quảng Đông: Canton, Chu-chao, Nom-hong, Waichao, và Su-heng, cùng với vô số cảng của hòn đảo độc lập Hải Nam, cửa biển của Amoy, hay Emui của Phúc Kiến, Ning-to của Chekiang, Saocheu của Kiangnan.

Giữa Xiêm và Việt Nam tồn tại cả quan hệ thương mại và chính trị.

Buôn bán với những cảng nằm ở eo biển Malacca chủ yếu được hình thành sau khi nơi cư trú ở Singapore được thành lập. Trung bình trong những năm gần đây, có khoảng 26 tàu, trung bình 2500 tạ mỗi chiếc, tổng cộng khoảng hơn 4000 tấn… Nhánh này, cũng như tất cả nền ngoại thương của Việt Nam, được điều hành bởi người Trung Hoa, kiêm nhiệm cả thương nhân, thủy thủ, và hoa tiêu. Người Việt Nam bản địa sợ hãi phải mạo hiểm ngoài vùng biển của mình, nơi mà tất nhiên là luật nội địa của họ tỏ ra không thực tế. Tôi không biết có ngoại lệ nào về điều này, nhưng năm vừa rồi, du hành tới eo biển Malacca được chỉ đạo bởi nhà vua hiện tại, trên danh nghĩa của chính ông ấy, là những chiếc tàu mà ngoại trừ những thủy thủ người Trung Quốc, tất cả đều được điều khiển bởi dân bản địa Việt Nam.

Sứ quán Anh quốc tại Singapore vẫn còn lưu trữ rất nhiều tài liệu về giao thương với Việt Nam trong thời Nguyễn (Đã được nhà nghiên cứu Li Tana viết 1 số công trình). Hay như John Crawfurd ghi nhận, vào thời Minh Mạng, lần đầu tiên người Việt Nam đã đưa thuyền đi nước ngoài thực hiện buôn bán thay vì giao công việc vào tay người Hoa.

Các ghi chép của người Pháp và J.Crawfurd dù khác nhau về số liệu nhưng đều cho thấy hoạt động giao thương tích cực ở bờ biển Việt Nam đầu thế kỷ 19. Ghi chép của người Pháp trong triều đình cũng tương đồng với cả quốc sử lẫn những ghi chép cá nhân thời này rằng khoảng năm 1823, Minh Mạng đã cho mua thương thuyền Tây làm mẫu để đóng tàu cho triều đình, và bắt đầu hoạt động ngoại thương.

Hoạt động này thậm chí đem lại nhiều xung đột cho cả triều đình và xã hội Việt Nam thời bấy giờ. Nhưng theo ghi nhận cuối đời Minh Mạng, nhà nước đã có thể thiết lập mạng lưới giao thương đều đặn với các cảng dưới quyền Anh như Indonesia, Philippine, Singapore, Tiểu Tây Dương… bên cạnh Trung Quốc. Năm 1839, Minh Mạng phái 1 đoàn sứ đến Pháp để thăm dò tình hình, với lời dặn dò là chú ý đến nhà máy sản xuất của họ. Đoàn sứ này đã đi thăm 1 nhà máy sản xuất đồ sứ, đem về 1 bộ còn đang được giữ ở viện bảo tàng.

Ngay cả đầu thời Tự Đức, khi tình hình biển Đông đã rất căng thẳng, vẫn có tàu đi nước ngoài. Cao Bá Quát và một số người được đề cập đến trong sách giáo khoa chẳng phải là những nhân sĩ hiếm hoi “được ra nước ngoài”. Rất nhiều quan chức, thậm chí thái giám, thị vệ cũng từng được phái đi công cán kiểu này. Nguyễn Tri Phương xuất thân chính là người đi làm nhiệm vụ ngoại thương cho triều đình.

Trích từ bài viết “Về cái huyền thoại Việt Nam nghèo nàn lạc hậu, thích bế quan tỏa cảng”
Tác giả: Trường An
Đăng trên Fanpage Sử Văn Các