Quân đội nhà Nguyễn có tiền thân từ thời các chúa Nguyễn. Trong thời kỳ chiến tranh với nhà Tây Sơn, quân đội là lực lượng căn bản để thành lập nhà Nguyễn; và sau này, khi nhà Nguyễn đã giành quyền thống trị, thì quân đội trở thành một bộ phận của nhà nước quân chủ Việt Nam đương thời.

Thời Gia Long Nguyễn Ánh cho đến giai đoạn đầu triều Minh Mệnh, tướng lĩnh trong quân đội giữ vị trí then chốt trong chính quyền nhà Nguyễn. Hầu hết các Tướng đứng đầu Năm quân đều là những đại thần quan trọng của triều đình. Chức vụ và quyền hạn của tướng lĩnh hơn hẳn các văn quan, mặc dù phẩm trật có ngang nhau. Sự biến đổi nhanh chóng từ những đại tướng cầm quân trong chiến trận trở thành viên quan cai trị về mặt hành chính các cấp là một đặc trưng nổi bật của tổ chức hành chính, quan chế đầu thời Nguyễn.

Trở lại thời kỳ phong trào Tây Sơn mới nổi dậy, Kinh đô Đàng trong thất thủ, quân chúa Nguyễn tan tác chạy vào Sài Gòn. Chúa Duệ Tông chết, Nguyễn Anh mới 17 tuổi được tôn làm Đại nguyên soái. Những tướng theo phò Nguyễn Ánh như Nguyễn Văn Nhân mới ở chức Khâm sai cai cơ, Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Phong giữ chức Cai đội, còn Lê Văn Duyệt chỉ là một hoạn quan. Những tướng giỏi giữ chức vụ cao hơn lúc đó như Dương Công Trừng, Chu Văn Tiếp v.v.. và sau đó là Võ Tánh đều lần lượt tử trận. Trải hơn 20 năm vào sinh ra tử, khi chiến tranh chấm dứt, những tướng lĩnh trung thành với họ Nguyễn nói trên may mắn vẫn còn sống sót. Nguyễn Văn Thành làm đến chức Khâm sai chưởng Tiền quân Bình Tây đại tướng quân, tước quận công. Nguyễn Văn Nhân được phong chức Khâm sai chưởng hữu quân Bình Tây tướng quân. Lê Văn Duyệt từ một quan thái giám trở thành một vị tướng tài ba, năm 1802 được phong chức Khâm sai chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân. Còn người em ruột Lê Văn Duyệt là Lê Văn Phong giữ chức Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách.

Những viên tướng nói trên khi được phong chức bao giờ cũng được nhận bộ Ấn Kiềm. Ấn Kiềm ở đây biểu thị cho quyền lực của viên tướng và pháp lệnh của vương triều, bên trong thì đối với quân đội và bên ngoài thì đối với dân chúng.

Thời kỳ còn chiến tranh, vàng – tiền dồn cho chiến đấu, nên Ấn của các tướng lĩnh cao cấp cũng chỉ được làm bằng đồng. Sử liệu đã giúp ta biết được Ấn của năm tướng đứng đầu Năm quân đều được làm bằng đồng. Phần núm trên ấn chạm đúc hình con kỳ lân, mặt dấu hình vuông, kích thước 2 tấc 1 phân 6 ly.

Như ta đã biết, Kim Ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế triều Nguyễn bao giờ cũng được đúc theo hình rồng và hình lân(1). Ngoại trừ trường hợp các hoàng tử, vương công trong hoàn g tộc, còn các đại thần và tướng lĩnh ấn thường được đúc theo hình vật khác như hổ, sư tử v.v.. Ở đây thể hiện rõ vai trò đặc biệt quan trọng của các đại tướng trong thời kỳ chiến tranh và ngay sau chiến tranh, cũng như dụng ý của Gia Long Nguyễn Ánh trong việc dùng người. Năm viên tướng đứng đầu Năm quân được dùng ấn có chạm kỳ lân. Trọng lượng và thể tích của quả ấn này rất lớn, chỉ sau một số Bảo Tỷ của Hoàng đế Nguyễn. Từ khi những chiếc ấn đó ra đời cho đến nay, đã trải qua biết bao phen binh hỏa, thời gian tuy chưa phải là nhiều, với trên dưới 200 năm, nhưng những hiện vật quý báu đó hầu hết đã bị chôn vùi.

Hiện vật tuy đã mất, nhưng dấu tích vẫn còn. Ở kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và kho sách Châu bản triều Nguyễn của Cục Lưu trữ, hiện vẫn còn lưu giữ đầy đủ nguyên bản một số hình dấu nói trên. Trong cuốn Công văn cựu chỉ(2), dấu của Khâm sai chưởng Tiền quân Bình Tây đại tướng quân Nguyễn Văn Thành vẫn nổi bật với màu son đỏ. Dấu hình vuông, có kích thước 9,3×9,3cm, viền ngoài để rộng 1,2cm không khắc họa tiết trang trí. Bốn chữ triện bên trong xếp theo hai hàng, nét khắc sâu đậm, với lối triện tự vuông vức. Đó là bộ chữ “Tiền quân chi ấn” 前 軍 之 印. Dấu được đóng ở đoạn cuối dòng ghi niên hiệu “Gia Long nguyên niên bát nguyệt sơ thất nhật”. Trước trang có hình dấu là trang có dòng chữ Hán “Khâm sai chưởng Tiền quân Bình Tây đại tướng quân quận công” 欽 差 掌 前 軍 平 西 大 將 軍 郡 公.

Việc khẳng định con dấu này là của Nguyễn Văn Thành là chính xác. Sách Đại Nam thực lục chính biên ghi lại: “Cho Khâm sai chưởng Tiền quân Bình Tây Tiền tướng quân Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng Tiền quân Bình Tây đại tướng quân điều bát chư đạo Bộ binh Quận công”(3). Con dấu “Tiền quân chi ấn” của Đại tướng Nguyễn Văn Thành được đóng vào ngày mồng 7 tháng 8 năm Gia Long thứ nhất (1802) trong một văn bản chữ Hán ngắn gọn nói về huyện Lạc Thổ, Phủ Thiên Quan, xứ Thanh Hoa Ngoại(4).

Nguyễn Văn Thành theo phò Gia Long Nguyễn Ánh từ năm 1778, khi còn ở chức Cai đội. Thành là người có học, văn võ kiêm toàn, cùng Nguyễn Ánh qua bao thăng trầm, lập nhiều chiến công. Năm 1787 được thăng Khâm sai Tổng nhung Cai cơ hiệu úy Tiền chi dinh Trung quân. Đến năm 1801 được phong chức Khâm sai chưởng Tiền quân Bình Tây đại tướng quân, tước Quận công, hơn hẳn các tướng đứng đầu Năm quân. Khi Nguyễn Ánh đã hoàn thành việc thống nhất đất nước, Nguyễn Văn Thành được phong làm Tổng trấn Bắc Thành. Sử cũ chép: “Lấy Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, ban cho sắc ấn, 11 trấn nội ngoại đều lệ thuộc, phàm những việc cất bãi quan lại, xử quyết kiện tụng đều được tùy tiện mà làm rồi sau đó mới tâu lên(5). Nguyễn Văn Thành từ một đại tướng cầm quân với ấn “Tiền quân chi ấn” đã trở thành một đại quan cai trị một miền Bắc Hà rộng lớn, với chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực. Nguyễn Văn Thành với chức Tổng trấn, được lĩnh nhận bộ ấn Kiềm với ý nghĩa khác hẳn ấn của Đại tướng quân. Đó là ấn “Bắc Thành tổng trấn chi ấn” và Kiềm nhỏ “Bắc Thành”. Những đặc điểm này có thể giúp phần nào cho các sử gia trong việc nghiên cứu lịch sử và tổ chức hành chính, quan chế thời Nguyễn.

Kho sách Châu bản triều Nguyễn đã giúp chúng tôi tìm lại được dấu tích của một số tướng lĩnh khác ngoài Nguyễn Văn Thành. Trong tập Chư bộ nha, Q2, đời Gia Long(6), có hình dấu lớn màu son đỏ. Dấu hình vuông cỡ 9,3×9,3cm; về kích thước, bố cục, tự dạng đều giống như dấu “Tiền quân chi ấn” của Nguyễn Văn Thành. Chỉ khác ở chỗ 4 chữ triện bên trong là “Hữu quân chi ấn” 右 軍 之 印 . Trang bên còn ghi rõ dòng chữ Hán “Khâm sai chưởng Hữu quân thần Nguyễn Văn Nhân” 欽 差 掌 右 軍 臣 阮 文 仁, chữ “thần” nhỏ bằng nửa các chữ khác và viết hơi thụt vào.

Cũng như Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Nhân theo binh nghiệp từ thuở còn trẻ, thời chúa Duệ Tông đã giữ chức Cai đội. Năm 1778 Nguyễn Ánh được tôn làm Đại nguyên soái và thăng Nguyễn Văn Nhân lên chức Khâm sai Cai cơ vệ Thần sách dinh Trung quân. Trải hơn 20 năm trận mạc, trung thành với Nguyễn Ánh và với nhiều chiến tích, khi chiến tranh chấm dứt, Nguyễn Văn Nhân làm tới chức Khâm sai chưởng Hữu quân Bình Tây tướng quân. Là một trong năm tướng cao cấp nhất đứng đầu Năm quân. Khâm sai chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân được sử dụng bộ ấn lớn “Hữu quân chi ấn” và Kiềm nhỏ đóng hai chữ Triện “Hữu quân”. Sự nghiệp của Nguyễn Văn Nhân có nhiều điểm giống Nguyễn Văn Thành. Từ một tướng quen trận mạc, trở thành người quản lý cả một vụng lãnh thổ Nam Bộ. Vào mùa xuân năm Gia Long 7 (1808), Gia Long thấy địa thế Gia Định rộng lớn nên cho đổi Gia Định Trấn làm Gia Định Thành, cho quản lý năm trấn. Đại Nam thục lục chính biên có ghi: “Đến tháng 9 năm 1808 bắt đầu đặt chức Tổng trấn Gia Định Thành… Lấy Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn, Trịnh Hòai Đức(7) làm Hiệp tổng trấn. Ban ấn Tổng trấn thành Gia Định (ấn bạc núm hình con sư tử)(8).

Như vậy Nguyễn Văn Nhân khi làm Tổng trấn Gia Định Thành được sử dụng bộ ấn “Gia Định Thành Tổng trấn chi ấn” và Kiềm nhỏ “Gia Định Thành”. Tất cả mọi việc như bổ nhiệm, bãi miễn thuộc quan, hình luật v.v.. quan trọng trong khu vực trực tiếp quản lý đều được làm trước tâu sau.

Từ thời Gia Long cho đến đầu triều Minh Mệnh, xã hội Việt Nam chưa ổn định nên nhà Nguyễn bắt buộc phải áp dụng chính sách “tản quyền”. Hoàn g đế và triều đình trực trị khu vực Trung Kỳ và gián tiếp quản lý hai miền Nam, Bắc. Trên thực tế lúc bấy giờ chức Tổng trấn ở Bắc Thành và Gia Định Thành chẳng khác gì những ông vua nhỏ, được định đoạt mọi việc rồi sau mới tấu trình lên Hoàng đế. Những hình dấu nói trên biểu thị quyền lực rất lớn của các quan Tổng trấn trên địa bàn mà họ quản lý.

Quyền lực đều lớn, sự nghiệp giống nhau, nhưng số phận của hai viên Tổng trấn – nguyên là những danh tướng – kết cục mỗi người một khác. Vì bị một số quyền thần ghen ghét mà chủ yếu là mâu thuẫn với Tả quân Lê Văn Duyệt, đồng thời quan điểm chính trị, có đôi điểm khác ý vua, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành bị vu cáo và phải uống thuốc độc tự tử khi án tử hình của Gia Long chưa đến với ông. Trước khi chết, ông làm một bài biểu trần tình trong đó có câu “Vua bắt bầy tôi phải chết mà bầy tôi không chết là bất trung”. Người Đại tướng anh dũng trong chiến trận, tận tụy trong công việc(9), kết cục lại bi thảm như vậy.

Còn Nguyễn Văn Nhân mãi đến năm 1820 đời vua Minh Mệnh thứ 1, vì già yếu, xin thôi chức Tổng trấn Gia Định Thành chuyển về Kinh đô Huế và vẫn giữ chức Khâm sai chưởng Hữu quân.

Nói đến các danh tướng đầu thời Nguyễn, không thể không nhắc đến Lê Văn Duyệt. Duyệt xuất thân là một quan thái giám trẻ tuổi, năm 1778 đã đứng dưới cờ của Nguyễn Ánh ở Sài Gòn. Là một người thông minh đang độ trai trẻ, Lê Văn Duyệt dũng cảm trong chiến đấu, qua nhiều gian hiểm vẫn tận trung với họ Nguyễn. Trong chiến tranh, Duyệt giữ chức Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách, từng lập nhiều chiến công. Năm 1802, ông được phong chức Khâm sai chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân.

Cũng trong Châu bản triều Nguyễn đời Gia Long(10), chúng tôi đã tìm thấy ấn dấu của Lê Văn Duyệt. Dấu có kích cỡ, hình thức, bố cục, tự dạng màu son giống như ấn dấu của Tiền quân Nguyễn Văn Thành và Hữu quân Nguyễn Văn Nhân. Chỉ khác ở chỗ 4 chữ Triện trong dấu là “Tả quân chi ấn” 左 軍 之 印. Như vậy khi được phong chức Khâm sai Tả quân, Lê Văn Duyệt cũng được sử dụng bộ ấn Kiềm bằng đồng “Tả quân chi ấn”.

Ấn dấu của ba danh tướng nhà Nguyễn
“Tả quân chi ấn” (Ảnh qua Kienthuc.net.vn)

Ấn dấu của ba danh tướng nhà Nguyễn

Khi chiến tranh chấm dứt, trong hàng ngũ tướng lĩnh, Lê Văn Duyệt là người tuổi còn trẻ, lại có nhiều mưu lược và kinh nghiệm chiến đấu. Do đó Gia Long đặc chỉ cho Duyệt chuyên dẹp loạn, vỗ về các nơi xa xôi hiểm trở như Thanh, Nghệ và các vùng Xiêm Lạp, Cao Miên.

Gần 20 năm đóng góp trong công cuộc củng cố và xây dựng chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, bộ ấn Kiềm đã theo viên Tả quân rong ruổi đến nhiều vùng đất xa xôi. Nhiều bản công văn tấu trình có ấn dấu “Tả quân chi ấn” được gửi về Kinh, là những tài liệu quan trọng giúp Gia Long trên nhiều lĩnh vực.

Tư liệu cũ ghi lại, thời kỳ làm Khâm sai, Tả quân Lê Văn Duyệt bị kẻ thù nội bộ định ám hại bằng thuốc độc, việc không thành, kẻ gian đó đã thay việc giết người bằng lấy trộm bộ ấn “Tả quân chi ấn” rồi bỏ trốn. Lê Văn Duyệt đuổi bắt được và thu lại bộ ấn Kiềm đó. Cứ liệu này cho ta thấy cái vô giá của Ấn Triện trong thời phong kiến xưa. Có thể đánh đổi sinh mệnh con người bằng Ấn Triện mà vua đã ban.

Đến mùa thu năm Minh Mệnh thứ 1 (1820), Lê Văn Duyệt lĩnh chức Tổng trấn Gia Định Thành thay Nguyễn Văn Nhân. Ngày Lê Văn Duyệt nhận chức cũng là ngày Nguyễn Văn Nhân trao lại bộ ấn Kiềm “Gia Định Thành Tổng trấn chi ấn” cùng toàn bộ giấy tờ quan trọng cho viên Tổng trấn mới. Cuộc đời Lê Văn Duyệt lại lặp lại giống hai viên Tổng trấn nguyên là Cựu đại tướng kia: từ một tướng lĩnh chuyên đánh dẹp trở thành một Tổng trấn với chức năng cai trị quản lý khu vực. Khi Lê Văn Duyệt chết, dân Gia Định tôn thờ như vị chúa riêng của họ(11).

Người em ruột Lê Văn Duyệt là Lê Văn Phong cũng theo anh giúp Nguyễn Ánh từ năm 1778. Đến năm 1800, được thăng Vệ úy Vệ Diệu Võ Tả dinh. Năm 1802 được thăng chức Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách, thay chức của người anh. Khi Nguyễn Văn Thành chết, Lê Văn Phong được thăng làm Hiệp Tổng trấn Bắc Thành, cùng Tổng trấn Lê Chất(12) quản lĩnh Bắc Hà.

Nguyễn Công Việt

Tạp chí Hán Nôm số 3 năm 1995
Theo Viện nghiên cứu Hán Nôm (hannom.org.vn)

Chú thích:

(1). Công văn Cựu chỉ, sách chữ Hán, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Ký hiệu A.3032.

(2). Đại Nam thực lục chính biên, Tập II, Nxb. Sử học, H. 1963, tr.424. Đoạn này trong Đệ nhất kỷ, Q.XIV. Nguyên văn: “Tân Dậu, năm thứ 22 (1801)” tức trước năm Gia Long thứ nhất một năm.

(3). Lạc Thổ, Thiên Quan, xứ Thanh Hoa Ngoại, nay thuộc Huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

(4). Đại Nam thực lục chính biên, tập III, tr. 80. Sđd.

(5). Châu bản triều Nguyễn trước năm 1992 còn lưu giữ tại kho Lưu trữ II, Tp. Hồ Chí Minh. Trong đợt công tác vào Sài Gòn năm 1990, chúng tôi đã in lại được nhiều hình dấu, trong đó có dấu “Hữu quân chi ấn” ở Chư bộ nha Q2, đời Gia Long, nay ở kho Lưu trữ của Cục lưu trữ Quốc gia, Hà Nội.

(6). Trịnh Hoài Đức theo giúp Nguyễn Ánh từ khi còn chiến tranh, giữ chức Tham tri bộ Hộ. Năm 1808 làm Hiệp tổng trấn Gia Định Thành. Nay ở thị xã Biên Hòa còn lăng mộ, bia đá.

(7). Đại Nam thực lục chính biên, Tập 3, tr.394, Sđd.

(8). Khi làm Tổng trấn Bắc Thành, Nguyễn Văn Thành nhiều lần dâng sớ điều trần những việc đúng đắn như: Xin đặt kinh diên giảng quan; định luật mới để quan lại; dân chúng theo điều tốt bỏ điều xấu; đặt Sử quan để làm quốc sử; đặt Ngự sử đài để nghiêm phép nước v.v..

(9). Chư bộ Nha, Q2, Sđd.

(10). Hiện nay tại trung tâm quận Bình Thạnh (Gia Định cũ) Tp. Hồ Chí Minh còn khu lăng mộ, điện thờ Lê Văn Duyệt, được bảo quản và xếp hạng di tích Lịch sử.

(11). Lê Chất nguyên là một hàng tướng, được Gia Long tin dùng. Năm 1802 được thăng Khâm sai chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân. Khi Nguyễn Văn Thành chết, Lê Chất thay làm Tổng trấn Bắc Thành.