Trong cuộc sống, một người tâm bình khí hòa, tâm tính ổn định, sẽ có thể không vì được mà hoan hỷ, không vì mất mà sầu bi, vô cớ bị nhục mạ mà không giận, gặp việc gấp mà không sợ hãi. Họ có thể ứng biến, thản nhiên khi mất, dửng dưng khi được. Đây phải là người có tấm lòng quảng đại, rộng rãi, không đặt tâm vào hơn thua. Bởi vậy “tâm tĩnh như nước” là biểu hiện của một loại trí tuệ.

Cảnh giới cao thượng: Tĩnh tâm sinh trí tuệ
(Ảnh minh họa: Shutterstock)

Có câu rằng: “Tĩnh là phúc”, hết thảy những phiền não trong đời người đều đến từ dục vọng, ham muốn và sự không an phận của con người. Những hấp dẫn của vật chất, danh, lợi, tình khiến người ta không thể thoát ra được. Thời cổ đại, có rất nhiều văn nhân có thể đạt đến cảnh giới “tĩnh tâm như nước”. Lý Bạch uống rượu ngắm trăng, Đào Tiềm cuốc đất trồng hoa cúc…

Trong cuộc đời, rất nhiều người đều mong muốn có thể làm cho tâm linh của mình được yên bình, nhưng rất ít người biết được rằng “tịnh” (thuần khiết) và “tĩnh” (tĩnh lặng) là có quan hệ mật thiết với nhau. Khi tâm linh của một người ở vào thời khắc tĩnh lặng thì trí tuệ của họ khởi tác dụng to lớn. Trái lại, khi tâm của một người là lo âu, bồn chồn thì tuyệt đối không thể sản sinh được trí tuệ.

Trong tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa”, Gia Cát Lượng sau khi bị thất thủ ở Nhai Đình thì nhận tin Tư Mã Ý dẫn theo mười lăm vạn đại quân tấn công Tây Thành. Trong tay Gia Cát Lượng lúc ấy chỉ có vẻn vẹn 2.500 quân lính giữ thành. Nhưng Gia Cát Lượng không có tâm hoảng loạn, mà bình tâm tĩnh khí dẫn hai tiểu đồng cầm đàn, dựa vào lan can trong thành ngồi gảy.

Tư Mã Ý dẫn quân kéo đến Tây Thành, thấy tình cảnh như vậy lấy làm lạ, đăm chiêu nghe Gia Cát Lượng gẩy đàn một lúc, rồi hạ lệnh cho quân nhanh chóng tháo lui. Tiếng đàn “bình tĩnh bất loạn” của Gia Cát Lượng đã hù dọa được Tư Mã Ý thoái lui. Đây được gọi là “núi Thái Sơn sụp đổ ngay trước mắt mà sắc mặt không thay đổi”. Khí độ siêu phàm như vậy, một người bình thường tất nhiên không thể làm được.

Một người bình thường gặp phải lúc thất bại sẽ cảm thấy vô cùng thất vọng, khi bị người khác làm tổn thương thì cảm thấy vô cùng thống khổ, khi bị phỉ báng thì cảm thấy rất oan ức, còn khi bị những vật chất hấp dẫn ham muốn, họ sẽ lưỡng lự hoang mang, khi bị phản bội thì thấy phẫn nộ, khi đứng trước lựa chọn giữa sống và chết thì cảm thấy vô cùng sợ hãi.

Kỳ thực, hết thảy những điều này đều là biểu hiện của khả năng tĩnh lặng không cao, cũng là kết quả của việc tu luyện, tu dưỡng không đủ. Người chân chính giác ngộ sẽ không vì gặp khó khăn mà nản, không vì gặp chuyện mà hoảng hốt, lâm nguy mà không sợ, lấy mỉm cười đối đãi với phỉ báng, lấy từ bi đối đãi với sự phản bội, dù trước mắt có biến cố gì cũng vẫn thong dong, tự tại, “tĩnh tâm như nước”…

Chỉ khi đã hiểu rõ được bản chất của sinh mệnh rồi người ta mới có thể có được cảnh giới tĩnh tại như vậy.

Lão Tử giảng: “Thượng thiện nhược thủy”, Khổng Tử cũng giảng: “Người trí thích nước, người nhân thích núi”. Có thể thấy, nước có rất nhiều phẩm tính vĩ đại để thế nhân tham ngộ. “Tâm tĩnh như nước” khiến tâm linh liền đạt được sự thuần tịnh cao độ, khiến nhân phẩm sẽ trở nên cao thượng, khiến người tu hành nảy sinh lòng từ bi.

Một người có thể tu luyện được tới cảnh giới “tĩnh tâm như nước” thì trong lòng người ấy sẽ nở rộ những đóa hoa sen tinh khiết, chính là đã đắc đạo rồi.

An Hòa