Lương Văn Can (1854 – 1972) Người xã Nhị Khê huyện Thường Tín, đỗ Cử nhân vào năm Giáp Tuất (1874) triều Tự Đức, lúc mới 21 tuổi. Tuy đỗ đạt sớm, nhưng ông đã khước từ mọi chức tước, phẩm hàm, chỉ ở nhà biên soạn sách dạy học để nuôi chí… Và đến khi điều kiện cho phép, ông đã cùng một số sĩ phu yêu nước sáng lập “Đông kinh nghĩa thục” để khai mở dân trí, cổ vũ tinh thần yêu nước những năm đầu thế kỷ XX. Thông thường người ta nhìn ông ở 2 góc độ nhà hoạt động chính trị, như chính di bút ông để lại:

“Vì nước mà sống, cũng vì nước mà chết, trải mấy chục năm trời chưa thỏa chí. Chỉ mong người đời sau cùng tôi nhớ tới mối hờn đất nước đừng quên”(1).

Gần chín thập kỷ qua, nhiều nhà nghiên cứu văn học, sử học đã để tâm tìm hiểu về Đông Kinh Nghĩa Thục cũng như vị lãnh tụ tiêu biểu của phong trào này. Song đến nay, việc sưu tầm, nghiên cứu các tác phẩm của ông Cử can quả còn quá ít. Cùng lắm, người ta chỉ mới dẫn ra được ông là tác giả của Việt nam địa dư ca. Lý do cũng thật dễ hiểu. Khi Đông Kinh Nghĩa Thục lại đóng cửa (tháng 11 năm 1907) thì ông đang bị lưu đày ở Campuchia, và tất cả năm người con trai ông, người thì hy sinh, người đi ra nước ngoài, rồi lần lượt qua đời cả.

Mãi gần đây, trong dịp giỗ tổ họ Lương ở làng Nhị Khê, chúng tôi được bà con trong họ cho xem một số sách Hán Nôm mà dòng họ còn giữ được trong đó có một số bản thảo viết tay của Lương Văn Can.

Dưới dây, chúng tôi xin giới thiệu cuốn Kim cổ cách ngôn, một trong số di cảo của ông.

Tìm hiểu "Kim cổ cách ngôn" của Lương Văn Can

Kim cổ cách ngôn là một tác phẩm do Lương Văn Can biên soạn để làm tài liệu giảng dạy về chữ Hán trong trường Nghĩa Thục. Ngoài bìa sách, dưới bốn chữ “Kim cổ cách ngôn”, còn có hai chữ “trị gia”, chứng tỏ bên cạnh mục tiêu dạy chữ Hán, sách còn nhằm vào việc giáo dục con em trong gia đình. Dưới đây là một số đoạn chích dịch từ Kim cổ cách ngôn để bạn độc tham khảo.

Đời người với của cải(2)

Người ta từ sự ăn uống, may mặc đến những việc ở tuổi trưởng thành như trai lấy vợ, gái lấy chồng, chỗ đi mừng, nơi đến viếng đều phải nhờ cậy vào tiền của. Của cải là sự sống của con người. Chính vì vậy khi dùng của cải, phải xem nguồn gốc của nó có trong sáng không, có hợp nghĩa không, tiêu đi có xứng đáng không, hay thái quá hoặc bất cập. Của cải lấy từ trời đất, song phải được làm nên bởi tâm sức của mình. Như đấng quân tử phải lao tâm mà được bổng lộc; kể nông phu phải đổ sức ra cấy lúa, trồng dâu, nuôi súc vật; người thợ thủ công làm bách nghệ, kẻ gồng gánh bán buôn thu được tiền của thì của ấy đều là nghĩa cả. Nếu không phải thế thời là phi nghĩa. Nguồn của cải đã trong sáng, thì việc chi tiêu phải có đạo, phải tính toán, cân nhắc việc nhẹ, việc nặng; việc khoan, việc gấp, việc trước việc sau. Việc gì nên chi thời chẳng nên kiệm, việc gì cần phải kiệm thì không được phóng túng. Mọi việc chi tiêu đều phải lấy nghĩa làm trọng. Như bậc quân tử từ xưa tới nay luôn luôn vì nghĩa, chẳng nói lợi mà lợi ở tỏ ấy. Còn kẻ tiểu nhân thì chỉ vì lợi vậy mà lợi chưa thấy lợi, hại đã ở bên trong rồi. Cho nên nói của cải đến bằng con đường vụ lợi, ích kỉ thì nguy hại cho đời người lắm thay!

Ai cũng có nết tín

Người ta bởi cùng khốn, đến nỗi phải chịu thiếu tiền bạc của người, hoặc vay mượn đồ vật của người mà không trả ngay được, thì lập tức bị người ta cho là kẻ xấu. Nếu nhẫn nhục đến kêu xin người ta khoan nhẹ cho, thì liền bị chê trách là bẻm mép. Nếu gặp mà không nói, thì người ta lại cho là lì lợm, gian dối. Tóm lại, chỉ vì thiếu thốn mà không biết cách gì để làm cho hợp ý người được. Ta thiết nghĩ lương tâm, nết tín thật ra ai cũng có. Ai chẳng muốn đền ơn đáp nghĩa, giữ niềm tin. Song chỉ vì túng thiếu mà phải loanh quanh đưa đẩy. Tục ngữ rằng: “Phú quý sinh lễ nghĩa”. Chẳng ai có của mà lại chịu điều thất tín với người!

Kinh doanh phải hiểu nghĩa

Ý nghĩa của hai chữ “kinh doanh” thật là sâu sắc. Như người dân quê chuyên cấy trồng, Người thợ làm bách nghệ, nhà thương gia buôn chuyến hay đứng cửa hàng đại lý… tất thảy đều là kinh doanh. Bí quyết thành công đối với nhà kinh doanh là ở sự trung thực. Nghĩa là nguồn lợi thu về phải theo lẽ tự nhiên, đừng bao giờ vì lợi mà làm điều xằng bậy hoặc phiêu lưu mạo hiểm. Giả dụ như người tích trữ gạo, vải mà lại mong mất mùa lúa, mùa bông thì đó là cái tâm địa ích kỷ, độc ác. Lại có người kinh doanh chuyên mua thừa, bán thiếu, làm hàng giả để đánh tráo hàng thật, cũng bởi lòng tham khôn cùng đấy thôi. Xét kỹ ra, người ta giàu nghèo là ở tâm đức, ở lòng ngay thẳng, khoan hậu với người, đây cũng là phép thuật kinh doanh vậy! Kìa xem những người bụng dạ khắc bạc, trong kinh doanh chỉ chăn chắn lợi mình, hại người, nguồn lợi trước mắt thu về nhiều đấy, vậy mà tương lai con cháu mạt vận. Cũng là bởi đạo trời ban phúc cho người thiện, trừng phạt kẻ gian tà. Vậy nên nhà kinh doanh phải lấy điều đó mà xem xét mình!

Không gì bằng ruộng đất

Xem trong thiên hạ từ xưa đến nay, người ta tàng chứa của cải thường gặp phải lửa cháy, nước dâng hoặc trộm cướp, giặc giã lấy đi… Người trữ vật báu thì càng sinh nguy, mắc nạn. Như người thôn quê nhà có vài trăm đồng bạc thì đêm ngủ không yên. Duy có ruộng đất thì chẳng lo ngập lụt hỏa hoạn, chẳng lo trộm cướp, giặc giã. Kẻ cường bạo cũng không dễ cướp nổi một thước đất. Dẫu người có sức khỏe xách nổi ngàn cân cũng không có thể gồng ruộng mà chạy được. Ruộng đất chính là vàng mười quý giá mà không người nào phải no cầm giữ, canh phòng. Ví bằng có gặp cảnh binh lửa, loạn lạc, người ta phải bỏ làng xóm ra đi, nhưng lúc yên hàn lại trở về. Cửa nhà có thể tan nát, song ruộng đất thì đâu vẫn thuộc về đấy. Lại bảo nhau khai khẩn, cấy trồng thì chẳng mấy vụ, sẽ có thể trở nên giàu có. Vậy mới nói: trong thiên hạ không gì quý bằng ruộng đất, người ta cần phải bảo nhau mà giữ lấy!

Răn người đứng trước của cải

Việc làm ra của cải, xưa nay vốn có đạo lý của nó. Bậc chính nhân muốn “trị quốc, bình thiên hạ” cũng phải lấy của cải làm gốc. Người dân bình thường hàng ngày ăn uống, may mặc, tiêu dùng,… không có của thời không được. Song đứng trước của cải, đối với người đời vẫn cần phải răn bảo. Cần răn người lấy của không thuộc quyền sử dụng của mình; răn người thấy lợi mà quên điều nghĩa; răn lòng tham không đáy lao theo của cải không biết đường trở lại; răn kẻ gian dối không còn chút lương tâm, hại người để làm lợi cho mình vậy.

Với người nghèo, muốn vươn lên phải chọn nghề cẩn thận. Không nên vì nghèo mà chứa sòng bạc để cám dỗ con em người khác. Không nên nhân buôn bán đổi chác mà làm lẫn của giả lừa lọc người ta.

Kẻ hàn sĩ thì không nên võ đoán, ra vào trong xóm ngoài làng, đương chỗ đất bằng mà sinh sóng gió. Kẻ chen mình vào chốn quan nha thì không nên vì lợi riêng mà làm hại người lương thiện. Không nên kiếm chuyện quấy nhiễu nhân dân, khiến người oan không được rửa oan. Kẻ bình dân thì đừng lừa nhau để chiếm đoạt tài sản của nhau đừng vay mà chẳng trả, hoặc kiếm cớ tước đoạt công sức người khác. Ấy toàn điều bất lương, lược kể ra đây để răn người đời trước của cải phải bền lòng giữ lấy đức vậy”.

Phạm Quốc Bằng

Đăng lại từ Tạp chí Hán Nôm số 1 năm 1994
Theo Viện nghiên cứu Hán Nôm (hannom.org.vn)

Chú thích:

(1) Các trích dẫn trong bài này đều do chúng tôi dịch nguyên bản chữ Hán.

(2) Tiêu đề các trích đoạn là do chúng tôi tạm đặt – PQB.