Thuở thập niên 60 của thế kỷ trước, Sài Gòn đã có nhiều tiệm thuốc Tây khắp nơi, không như trước đó hai ba thập niên chỉ lèo tèo năm ba hiệu thuốc. Đây là thời gian thuốc Đông y lao đao do sự cạnh tranh từ thuốc Tây. Thuốc Tây không đắt tiền, nên người dân thường sử dụng khi bệnh hoạn ốm đau. Thuốc Đông y chỉ chữa cho các loại bệnh thông thường, giải độc, bổ tạng, cảm ho, sình bụng, khó tiêu, lãi đũa lãi kim cho con nít, đơn thuần với các loại cao đơn hoàn tán.

Thuốc Đông y ngày trước
(Ảnh: Manhhai, Flickr)

Hồi nhỏ tôi thường ốm đau, mỗi lần bị cảm là má tôi tất bật chạy ra tiệm bà già Tàu ở đầu ngõ mua vài ba gói thuốc tán cảm mạo hiệu Ông Già. Xé gói thuốc ra pha với nước ấm trong cái chén nhỏ lan toả mùi thơm cam thảo. Thế nhưng thuốc này có vị đắng kinh khủng, uống vào rất dễ nhợn ói. Mỗi lần nhắm mắt ực chén thuốc xong, má tôi móc túi áo bà ba lấy ra viên trần bì hay xí muội, đưa cho tôi ngậm cho đỡ lạt miệng. Tôi vẫn thích thuốc viên nhỏ gọi là đan (đơn) dược, không nhớ tên là gì, dễ uống hơn nhưng hiệu quả cũng chậm hơn. Có một điều phải công nhận, thuốc Ðông y không phải không có hiệu quả tức thời. Thuốc tán Ông Già uống vào năm ba tiếng đồng hồ sau giảm sốt, ăn vào một tô cháo hành nóng hổi, mồ hôi xuất ra, cảm giác cơ thể trở lại bình thường.

Thuốc tán cảm mạo hiệu Ông Già từ đó đã ăn sâu trong tâm thức của tôi. Mặc dù sau này mỗi lần cảm cúm tôi hay dùng thuốc Tây cho nhanh gọn, mà hiệu quả cũng như nhau. Thế rồi từ đó đến nay tôi không còn thấy gói thuốc Ông Già nữa. Tuy vậy, hình ảnh ông già Nam bộ với chòm râu trắng dài trông rất hiền từ tôi vừa được thấy lại qua ảnh tư liệu trong bài viết “Sài Gòn từng có thuốc Ông Tiên”, của tác giả Phạm Công Luận. Nhà thuốc Ông Tiên thuở đó như thế này: “Năm 1936, trên báo Công Luận số Xuân, quảng cáo nhà thuốc Ông Tiên ghi rõ địa chỉ là số 82 đến 92 đường Paul Blanchy nối dài (Rue Paul Blanchy prolongée) ở Phú Nhuận, nay là đường Phan Ðình Phùng. Hình nhà thuốc chiếm hết bề ngang trang báo, đó là một dãy nhà dài, gồm tất cả sáu gian. Nếu tính trung bình một gian là 3m thì mặt tiền nhà thuốc là 18m, rất bề thế”.

Chẳng lẽ thuốc cảm mạo hiệu Ông Già thuở thập niên sáu mươi chính là thuốc Ông Tiên quảng cáo trên các báo chí vào thập niên ba mươi chăng? Tôi nghĩ có thể thuốc Ông Già được bào chế từ thế hệ đời sau của chủ nhân nhà thuốc Ông Tiên. Vì thuở tôi còn nhỏ, nhà thuốc Ông Tiên đã không còn ở vị trí trên đường Phan Ðình Phùng nữa, mà ở khu vực này chỉ có nhà thuốc Nhân Phong Ðường bán thuốc Cam Hàng Bạc, dưới dốc cầu Kiệu, do một Ðông y sĩ miền Bắc di cư vào lập nên. Tiệm thuốc này bán các loại thuốc Ðông dược bào chế sẵn, chuyên trị cảm mạo thương hàn, sài đẹn cho con nít, thuốc tê thấp, thuốc bổ huyết dưỡng kinh. Bên trong tiệm trên quầy gỗ có trang trí một con nai bằng gỗ đen bóng. Bây giờ tôi không thấy ở đâu còn bán thuốc tán hiệu Ông Già hay Ông Tiên nữa, chỉ thấy một nhà thuốc Ông Tiên ở thành phố Houston. Không biết nhà thuốc này có bà con họ hàng gì với nhà thuốc Ông Tiên Sài Gòn ngày trước?

Ngay cả đầu những năm thập niên 70 má tôi vẫn trung thành với các loại thuốc Nam. Theo ‘Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị’ của Huỳnh Tịnh Của, in từ năm 1896, đã phân biệt:

“Thuốc Bắc: thuốc Trung Quốc chở qua, quen hiểu cây cỏ, vị thuốc ở về phía Bắc, đất nước cao ráo, khí vị hậu hơn, mạnh hơn thuốc bên Nam. Thuốc Nam: Thuốc dùng cây cỏ bên Nam hay là bên nước An Nam mà làm ra, đối với thuốc Bắc là thuốc bên Trung Quốc”. Nam hay Bắc cũng chỉ là loại thuốc chế biến từ cây cỏ thực vật có các hoạt chất làm thuốc mà ra, gọi là Ðông y cho dễ hiểu.

Mỗi lần má tôi ốm đau là nhờ tôi chở bà bằng xe đạp ra phòng thuốc Ông Ba Lượm ở khu vực Chí Hoà để hốt thuốc. Phòng thuốc Ðông y Ông Ba Lượm tôi đến vài lần, còn nhớ như in cây da-sà to lớn phủ bóng mát cả một khuôn viên sân rộng lớn. Không biết cây da-sà có từ lúc nào; hình thù nó cổ quái, buông rễ lòng thòng. Bên cạnh phòng thuốc là một ngôi mộ cổ, phía trước có tấm bình phong bằng ô-dước, đắp nổi hình con hổ sơn màu đỏ. Phòng mạch là ngôi nhà gạch mái ngói cất kiểu xưa, tường quét vôi vàng, trông giống như một cái đình hơn là ngôi nhà làm thành phòng thuốc.

Bên trong phòng thuốc coi vậy mà rộng rãi. Bệnh nhân phần đông là người lớn tuổi, ngồi trên băng ghế chờ tới lượt đến bàn ông Ba Lượm chẩn mạch, hỏi han bệnh tình, rồi kê toa sang quầy thuốc bên cạnh, đưa cho người bốc thuốc. Tôi không biết trong miếng giấy nhỏ ghi tiếng Tàu hay tiếng Việt, nhưng dãy tủ kệ đựng thuốc đều ghi chữ Hán trước mỗi ô hộc tủ. Người bốc thuốc trải ba miếng giấy vuông to màu vàng nhạt trên quầy, xem lướt qua toa, dường như đã thuộc lòng tên các vị thuốc và phân lượng bao nhiêu nên cứ thế mà kéo hộc tủ bốc lấy. Có khi một nhúm lá khô chia đều cho ba thang thuốc, có lúc lại lấy cái cân nhỏ để cân từng li thuốc khô xắt mỏng. Xong rồi người bốc thuốc căn dặn bệnh nhân mang về sắc cạn bảy phần trong siêu, uống ba ngày liên tục. Sắc thuốc coi vậy không đơn giản; canh lửa cho đến khi siêu thuốc cạn vừa còn ba phần là một điều rất khó.

Thuốc uống có ba thang, không hết bệnh thì đương nhiên phải trở lại chẩn đoán, bốc thuốc uống tiếp. Có thể khi đó thầy thuốc thay đổi các vị thuốc hoặc bổ sung thêm thuốc “dẫn dược”. Dẫn dược nôm na là một hoạt chất đặc biệt bắt buộc phải uống trước khi uống thang thuốc chính, với mục đích làm chất xúc tác giúp cho các vị thuốc tác dụng vào máu hiệu quả hơn. Việc dùng thuốc Ðông y phải lâu dài thì mới khỏi bệnh. Do đó, nhiều khi bệnh nhân không dùng thuốc đúng cách, bệnh tình cứ rề rề không khoẻ. Bởi thế cho nên nhiều người chưa đặt niềm tin vào cách chữa Ðông y, cho rằng: “Chủ có phước, thầy được may, đâu phải thầy hay thuốc giỏi”.

Ở khu vực Hoà Hưng nơi tôi ở, đi xuống chừng cây số trên đường Lê Văn Duyệt là đến Ngã ba Ông Tạ, rẽ vào đường Thoại Ngọc Hầu là gặp ngay chợ Ông Tạ, bán thịt cầy thui đầy hai bên phố. Ðây là khu người Bắc di cư vào Sài Gòn sinh sống hồi năm Năm Tư, nên mang theo tập quán đặc sản thịt cầy, riềng mẻ, người ta mua bán tấp nập. Phía trước cổng vào nhà thuốc Ðông y Thủ Tạ, có hàng bán ốc nhồi luộc kiểu miền Bắc, nồi luộc ốc nghi ngút khói toả mùi hương sả thơm ngon đáo để, dễ làm người ta thèm thuồng.

Ông Tạ tên thật là Trần Văn Bỉ người quê Mỹ Tho, nhiều tài liệu ghi rằng thuở thiếu thời ông lên núi Bà Ðen ở Tây Ninh tu đạo và học nghề hốt thuốc. Sau năm 1945, ông xuống núi về Sài Gòn tìm mảnh đất trống lập nên nhà thuốc giúp người. Hồi đó, ở ngã ba này có một tháp canh của lính Pháp, xét hỏi những người từ Củ Chi, Hóc Môn đi vào Sài Gòn nên trạm bót này gọi là Ngã ba Tháp. Từ khi Ông Tạ đến đây mở nhà thuốc, bà con gần xa kéo đến xin chẩn bệnh hốt thuốc, nên sau khi Pháp rút khỏi Sài Gòn, được người đời gọi là Ngã ba Ông Tạ.

Ðông y Thủ Tạ chữa được nhiều bệnh ngặt nghèo, có khi không nhận tiền công cho những người lao động nghèo khó quanh vùng. Tiếng lành đồn xa nên tiệm thuốc ngày càng đông. Một lần má tôi bệnh nặng nằm liệt giường, không thể đi đến Ông Tạ chẩn bệnh mua thuốc. Tôi lội bộ đến chờ tới phiên để vào nói bệnh của má tôi, nhờ ông kê toa bốc thuốc. Ông hỏi han gia cảnh, bệnh tình nhưng không thấy bệnh nhân thì làm sao biết được bệnh gì ở mức độ nào. Cuối cùng ông vẫn kê cho tôi vài ba thang thuốc, nhưng là thuốc bổ mang về sắc cho má tôi uống. Tiền thuốc ông không nhận, lại còn dặn dò, uống thuốc xong vài ngày cho khoẻ rồi đưa má tôi tới khám để biết nguyên căn thì mới trị được bệnh tình.

Năm 1986, Ông Tạ mất. Ðám tang của ông lớn lắm. Bà con khắp nơi xa gần, bệnh nhân của ông đến đưa tang; đoàn người đưa đám kéo dài ra đến đầu ngã ba chưa dứt.

Thuốc Ðông y ngày nay vẫn còn hữu dụng; nhiều nghiên cứu bào chế cho ra nhiều loại cao đơn hoàn tán trị các loại bệnh nhất thời. Thuốc Ðông y có thế mạnh của Ðông y. Trong một bài viết bàn về thuốc tây thuốc ta, nhà văn Sơn Nam ghi nhận: “Thuốc tây, thầy tây và thuốc ta, thầy ta có mâu thuẫn nhau không? Theo ý tôi, lần hồi sẽ có sự bổ sung. Ðồng bào phân biệt rõ: Cái gì dính líu tới vi trùng, cấp cứu thì thuốc tây hay hơn, cái gì thuộc về bịnh lâu dài thì đừng nôn nóng, dùng thuốc ta vẫn là có công hiệu bền lâu”.

Trang Nguyên
Arlington, TX

Đăng lại từ Báo Trẻ Online (treweekly.com)
Mời độc giả ghé thăm

Xem thêm cùng tác giả: