Trong cuộc chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ, có một điểm sáng lớn được lưu lại chính là thần cơ thương pháo của Hồ Nguyên Trừng, loại vũ khí được Minh sử cho là “nhất thiên hạ”, khiến quân phương Bắc kinh hồn bạt vía.

Hồ Nguyên Trừng
Quân nhà Minh. (Ảnh từ motthegioi.vn)

Uy lực của súng thần cơ

Tiếp theo kỳ trước, hai cánh quân Minh tầng tầng lớp lớp tập kết gần thành Đa Bang rồi đốt đuốc, thổi tù và làm hiệu. Quân Minh nhất loạt xông vào tấn công.

Thấy quân địch tấn công, Hồ Nguyên Trừng cho đội thần cơ thương pháo nhả đạn. Quân Minh chết rất nhiều, nhưng ỷ đông nên hết lớp này đến lớp khác vẫn xông tới chân thành rồi dùng thang vân thê để leo lên.

Quân nhà Hồ dùng súng thần cơ loại vác vai bắn vào quân Minh khiến quân Minh chết vô số. Quân Minh cũng cho đại bác chuyên phá thành bắn vào thành nhưng loại súng này cũng nhanh chóng bị thần cơ thương pháo tiêu diệt.

Trên tường thành Đa Bang, súng thần cơ cũng liên tục nhả đạn khiến binh lính quân Minh kinh hoàng. Nhưng dù kinh hồn bạt vía, quân Minh cũng không dám rút lui vì sẽ bị xử chém theo quân lệnh.

Hồ Nguyên Trừng
Súng thần công. (Ảnh từ kienthuc.net.vn)

Trong lúc đó tướng nhà Hồ là Nguyễn Tông Đỗ cho voi ra xông trận. Trương Phụ liền cho đội kỵ binh có vẽ hình sư tử chụp lên đầu ngựa nhằm dọa voi, rồi cho bắn đại bác và tên có đốt lửa ở đầu.

Voi của quân nhà Hồ không được huấn luyện kỹ, nghe tiếng đại bác nổ thì hoảng sợ bỏ chạy vào thành. Quân Minh liền chạy theo núp bên cạnh voi để vào thành.

Hồ Nguyên Trừng
(Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Thấy quân Minh núp sau đội tượng binh kéo vào, thần cơ thương pháo không thể nhả đạn, bởi lẽ nếu bắn quân Minh cũng đồng nghĩa với bắn cả vào quân mình.

Tình huống bất ngờ này quân nhà Hồ không lường tính trước, quân Minh cũng không ngờ lại có được may mắn bất ngờ để tràn vào trong thành, đánh mở toang cổng thành cho đại quân tiến vào.

Vì tính chất quan trọng của cuộc chiến này, quân tướng nhà Hồ đã cố gắng đánh đến cùng. Các tướng Lương Dân Hiến, Thái Bá Nhạc đã quyết tâm tử trận cùng thành. Các cánh quân Hồ đóng dọc theo sông Hồng thì tranh luận về việc có nên cứu viện thành Đa Bang hay không, vì quân Minh tập trung đánh thành rất đông, bàn bạc tới lui mãi không quyết được.

Hồ Nguyên Trừng
Minh họa súng thần cơ loại nhỏ vác vai. (Ảnh từ kienthuc.net.vn)

Ở trong thành Hồ Nguyên Trừng không còn lựa chọn nào khác đành cho quân rút khỏi thành Đa Bang, các cánh quân dọc sông Hồng cũng rút lui theo.

Quân Minh chiếm được thành Đa Bang thì cho gửi thần cơ thương pháo về nước để người Minh nghiên cứu uy lực loại vũ khí này.

“Mất nhà” mới biết bụng giặc

Quân Minh theo sông Phú Lương tràn vào thành Đông Đô. Nơi đây tập trung dân chúng lánh nạn, vì thế quân Minh tha hồ cướp bóc, tích trữ lương thảo, nhiều người bị bắt làm nô lệ, trai tráng khỏe mạnh thì bị bắt để làm ngụy quân.

Trước sự tàn bạo này, nhiều người mới nhìn rõ dã tâm của quân Minh. Đây là một cuộc xâm lược cướp bóc, chứ không phải vì diệt nhà Hồ nhằm đưa nhà Trần lên ngôi như đã hứa hẹn trước đó.

Hồ Nguyên Trừng
Thành Thăng Long tức thành Đông Đô thời nhà Hồ. (Ảnh từ quehuongonline.vn)

Dò biết quân nhà Hồ ở Hoàng Giang, tướng Mộc Thạnh đưa quân đến đánh, quân nhà Hồ thua to phải rút về giữ cửa Muội Hải (thuộc Giao Thủy, Nam Định, cửa biển xưa, nay đã bị lấp). Quân Minh đuổi theo nhưng thuyền quân nhà Hồ nhỏ nên đi nhanh hơn. Khi quân Minh đuổi đến Muội Hải thì quân nhà Hồ đã tập hợp ổn định sẵn sàng đánh trả.

Mộc Thạnh cho quân tập kết đợi thêm các cánh quân Minh đến để tấn công Muội Hải.

Tại căn cứ cửa biển Muội Hải, Hồ Nguyên Trừng củng cố lực lượng và thành lũy. Đây là địa hình ven biển có nền đất bùn lầy ẩm ướt nên hạn chế được sức mạnh kỵ binh và bộ binh của quân Minh.

Hồ Nguyên Trừng sai đưa tới thêm súng thần cơ các cỡ lớn nhỏ đặt trong thành lũy phòng thủ. Như vậy thần cơ thương pháo có thêm cơ hội đối mặt với quân Minh.

Xem thêmCâu chuyện trung nghĩa đằng sau cuộc chiến giữa quân Nguyễn và quân Tây Sơn tại thành Bình Định

Thần cơ thương pháo bất khả chiến bại

Trương Phụ và Mộc Thạnh tập trung đại quân đến Muội Hải. Lúc đó nước thủy triều cao, tướng Ngô Thành Nhân của nhà Hồ tận dùng chiều gió đem chiến thuyền đột kích quân Minh và giành được thắng lợi. Quân Minh thua chạy, quân nhà Hồ đuổi theo. Nhưng tướng Nguyễn Thành Nhân đã mắc sai lầm khi cho quân đuổi theo quá xa, đến tận Giao Thủy.

Hồ Nguyên Trừng
(Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Trương Phụ, Mộc Thạnh cho quân chạy tách ra 2 hướng đến bờ sông, đợi thuyền quân Hồ đuổi đến thì quân từ 2 bên bờ đổ ra đánh. Quân nhà Hồ thua to, tướng Ngô Thành Nhân bị vây hãm và tử trận cùng binh sĩ.

Quân Minh kéo đến và tấn công Muội Hải. Thần cơ thương pháo lại nhả đạn khiến quân Minh choáng váng, binh sỹ tử trận rất nhiều mà không sao chiếm được căn cứ này.

Sau hơn nửa tháng tổng tấn công Muội Hải, quân Minh bị thiệt hại nặng nề nhưng không chiếm được. Trương Phụ nhận thấy rằng cứ đà này thì có nướng hết quân cũng không thể làm gì được, đồng thời nhận thấy quân nhà Hồ chỉ mạnh khi dựa và thành lũy kiên cố và vũ khí phòng thủ, chứ không giỏi tấn công. Vì thế Trương Phụ cho quân rút lui về cửa Hàm Tử (xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, Hưng Yên), để cho quân nhà Hồ đem quân ra tấn công rồi sẽ tiêu diệt.

Hồ Nguyên Trừng cho quân ngược sông Hồng đánh chiếm lại căn cứ Hoàng Giang. Các cánh quân nhà Hồ tập trung ở Hoàng Giang được 7 vạn, quyết định chuẩn bị tấn công quân Minh ở Hàm Tử.

Trận Hàm Tử

Tại Hàm tử quân Minh có mười mấy vạn quân, lại tìm cách bắt trai tráng trong dân vào quân ngũ nên quân số cũng tăng thêm.

Quân Minh tại Hàm Tử đông hơn nhiều quân nhà Hồ, tuy nhiên Hồ Nguyên Trừng vẫn cho quân thủy bộ cùng tấn công dù không nắm chắc phần thắng.

Hồ Nguyên Trừng
(Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Quân nhà Hồ cho rất nhiều chiến thuyền tiến đến Hàm Tử, các chiến thuyền chắn ngang kín cả con sông, kéo dài suốt 10 dặm.

Tuy nhiên quân nhà Hồ kỷ luật kém, các tướng thiếu kinh nghiệm khi tấn công. Việc tấn công muốn thắng đòi hỏi phải bí mật nhằm tạo bất ngờ, nhưng các chiến thuyền của quân Hồ cứ xông đến, không có thuyền đi trước thăm dò tình hình quân Minh.

Khi thuyền quân Hồ đang tiến thì quân do thám của quân Minh đã phát hiện ra cuộc tấn công này và báo về cho chủ tướng. Vì thế quân Minh đã bố trí mai phục sẵn hai bên bờ sông. Quân nhà Hồ tiến vào trận địa mai phục, quân Minh đổ ra đánh khiến quân nhà Hồ thiệt hại nặng nề, máu đỏ khắp cả mặt sông.

Hồ Nguyên Trừng
(Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép tình cảnh thời bấy giờ như sau:

“Quân bộ của nhà Hồ không thể đối địch được, cùng nhau trốn chạy, gặp phục binh nhà Minh, đều quay giáo, nhảy xuống sông chết.”

Sau cuộc chiến này quân nhà Hồ bị thiệt hại quá nhiều và không còn lực lượng để chống quân Minh nữa. Cha con Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương đều bị bắt giải về Minh triều.

Quân Minh tế súng phải tế Hồ Nguyên Trừng

Tại nước Minh, biết Hồ Nguyên Trừng là người chế tạo ra thần cơ thương pháo, vua Minh đổi xử với ông rất trọng hậu. Vì để bảo đảm tính mạng cho cha và em mình không bị sát hại, ông buộc phải chế tạo thần cơ thương pháo cho nhà Minh.

Hồ Nguyên Trừng được phong làm Công bộ Thượng thư. Minh sử đánh giá cao công lao của Hồ Nguyên Trừng “đánh thắng địch là dựa vào súng thần”. Sau khi ông qua đời, vua nhà Minh sắc phong làm “Thần hỏa khí”.

Lê Quý trong “Vân đài loại ngữ” cũng ghi chép rằng:

“Quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng”

Sau khi đánh thắng nhà Hồ, quân Minh đã đưa về nước hai nhân tài kiệt xuất người Việt, một là Hồ Nguyên Trừng, và thứ hai là Nguyễn An, tổng công trình sư và kiến trúc sư trưởng của Tử Cấm Thành (Xem bài: Vị hiền nhân người Việt góp phần xây dựng nên Tử Cấm Thành).

*******

Thần cơ thương pháo được xem là vũ khí “nhất thiên hạ” lúc bấy giờ cũng không giúp nổi nhà Hồ giữ được giang sơn. Điều đó ứng với câu nói của Hồ Nguyên Trừng ngay trước khi chuẩn bị chống quân Minh: “Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Đó cũng chính là bài học sâu sắc cho hậu thế.

Trần Hưng

Xem thêm: