Trong cuộc chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ, có một điểm sáng lớn được lưu lại chính là thần cơ thương pháo của Hồ Nguyên Trừng, loại vũ khí được Minh sử cho là “nhất thiên hạ”, khiến quân phương Bắc kinh hồn bạt vía.

Thần cơ thương pháo “nhất thiên hạ” nhưng mệnh trời là ở lòng dân

Nói đến Hồ Nguyên Trừng thì không thể không nhắc tới thần cơ thương pháo. Vào thời điểm những năm 1400 thì súng thần công đã bắt đầu xuất hiện ở khá nhiều nơi trên thế giới và trở thành một siêu vũ khí. Hồ Nguyên Trừng trong quá trình tổ chức xưởng đúc súng lớn, cải tạo các loại súng khác nhau, cuối cùng đã phát minh ra phương pháp đúc súng thần công mới, đặt tên là súng “thần cơ”.

Hồ Nguyên Trừng
Súng thần công được trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Quân đội, Hà Nội (Ảnh từ archives.gov.vn)

Sử nhà Minh có ghi chép rằng trong cuộc bình Giao Chỉ, nhà Minh đã bắt được súng thần, pháo thần của Giao Chỉ được coi là vũ khí “nhất thiên hạ”, rằng “súng thần công có được gần đây dùng sắt làm tên, bắn đi bằng lửa, đi xa ngoài 100 bước, nhanh chóng kỳ diệu như thần, nghe thấy tiếng là lửa đã đến”.

Như vậy súng thần cơ được nhà Minh đặc biệt coi là vũ khí “nhất thiên hạ”. Thần cơ thương pháo có lớn, có nhỏ, nhỏ thì vác vai mà bắn, lớn hơn thì làm bánh kéo hoặc gắn cố định trên thành. Minh sử có ghi:

“Dùng đồng đỏ ở mức độ giữa sống và chín, nếu dùng sắt thì sắt xây dựng mềm hơn, sắt Tây kém hơn. To nhỏ khác nhau, thứ lớn dùng xe, thứ nhỏ dùng giá, dùng bệ, vác vai. Thứ lớn lợi cho phòng thủ, thứ nhỏ lợi cho chiến đấu, tùy nghi mà sử dụng, là thứ vũ khí chủ yếu khi hành quân.”

Hồ Nguyên Trừng
Các viên đạn bằng đá của thần cơ thương pháo được khai quật tại thành Tây Đô (Thanh Hóa). (Ảnh từ Trí Thức Trẻ)

Sau này quân Minh cũng trực tiếp chứng kiến sự lợi hại của súng thần cơ khi đánh quân Mông Cổ:

“Khi Thành Tổ thân chinh Mạc Bắc dùng súng thần An Nam vừa bắt được, kẻ địch một người tiến lên, lại hai người nữa chết theo, đều trúng súng mà chết”.

Vậy nếu thần cơ thương pháo lợi hại đến như thế, thì vì sao mà nhà Hồ bị diệt vong? Thực tế trong cuộc chiến này, súng thần cơ hoàn toàn khẳng định được uy lực của mình, nhưng do nhà Hồ không được lòng dân, nên dù vũ khí hiện đại cũng vẫn thảm bại.

Mệnh trời là ở lòng dân, thất bại của nhà Hồ thực ra cũng đã được Hồ Nguyên Trừng dự liệu từ trước. Cuối năm 1405, Hồ Quý Ly cho triệu tập một cuộc hội nghị đặc biệt để bàn kế chống quân Minh. Khi được hỏi, Hồ Nguyên Trừng đã nói rằng:

“Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.

Trong loạt bài này, mời độc giả nhìn lại cuộc đối đầu giữa thần cơ thương pháo của Hồ Nguyên Trừng và 80 vạn quân Minh.

Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, đổi tên nước từ Đại Việt thành Đại Ngu. Sở dĩ Hồ Quý Ly chọn tên này là vì cho rằng họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn – một vị vương giả nổi tiếng thời “Tam Hoàng Ngũ Đế”. Theo đó, Hồ Quý Ly cho rằng khi Chu Vũ Vương lật đổ Trụ Vương của nhà Thương, thì đã tìm con cháu của Ngu Thuấn là Công Mãn phong làm vua ở nước Trần (một nước chư hầu của nhà Chu), đổi sang họ Hồ với tên là Hồ Công Mãn.

Tuy nhiên các phân tích cho rằng Hồ Quý Ly đã nhận sai. Theo Sử ký Tư Mã Thiên thì dòng dõi vua Thuấn chỉ có chi họ Diêu và họ Quy chứ không có chi nào họ Hồ; và Hồ Công mãn là thủy tổ họ Trần chứ không phải họ Hồ. Hồ Công Mãn chỉ là một cách gọi tắt, cách gọi đầy đủ là Trần Hồ Công Quy Mãn. Công là tước hiệu, Hồ là thụy hiệu chứ không phải họ.

Hồ Quý Ly. (Ảnh từ kienthuc.net.vn)

Hồ Quý Ly sau khi lập ra nhà Hồ thì lên làm thượng hoàng, trao ngôi vua lại cho con là Hồ Hán Thương. Mặc dù sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly cố gắng thực hiện một số cải cách nhưng bất thành, vì những thủ đoạn mà Hồ Quý Ly đã làm để lên ngôi khiến dân chúng xa lánh nhà Hồ.

Nhà Minh sau khi thống nhất Trung Quốc năm 1368 bắt đầu có ý định nhòm ngó xuống phương Nam. Năm 1405 nhà Hồ đã cắt 59 thôn ở Lộc Châu (Lạng Sơn) để mong tránh được họa binh đao nhưng cuối cùng cũng không tránh khỏi họa xâm lược. Mượn cớ đưa con cháu nhà Trần về làm vua, quân Minh bắt đầu kéo sang nước ta.

Xem thêmTrần Khát Chân: Danh tướng phá thế phong thủy khiến nhà Hồ chỉ tồn tại 7 năm ngắn ngủi

Quân Minh đưa 80 vạn quân tiến đánh Đại Ngu

Theo Minh sử cũng như Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép lại thì quân minh tiến đánh Đại Ngu có đến 80 vạn quân, theo hai đường Vân Nam và Quảng Tây tiến sang, mỗi cánh 40 vạn quân. Hai cánh quân lên đến 80 vạn nhanh chóng vượt qua biên giới rồi hợp nhất lại ở Bạch Hạc, dựng doanh trại ở bờ Bắc sông Cái kéo dài đến tận Phú Giang.

Quân nhà Hồ dựa vào thành trì và chiến lũy dọc sông Thao, sông Lô, sông Hồng mà bày trận thủy bộ dựa vào nhau lập thành thế trận phòng thủ. Con trai cả của Hồ Quý Ly là Tả tướng Hồ Nguyên Trừng đóng quân dọc sông Hồng, lập chiến lũy thủy bộ chắc chắn ngăn quân Minh.

Chỉ huy quân Minh là danh tướng Trương Phụ, đây là viên tướng có nhiều kinh nghiệm và rất thận trọng. Quan sát thế trận quân nhà Hồ, chưa tìm được điểm yếu thì Trương Phụ không dám khinh xuất tấn công.

Hồ Nguyên Trừng cũng áp dụng chiến thuật mà Hưng Đạo Đại Vương khi xưa dùng để đánh bại quân Mông Thát là “vườn không nhà trống”. Các vùng quân Minh chiếm đóng người dân đều di dời, nhằm khiến quân Minh không cướp được lương thực.

Hai bên dàn quân không bên nào dám khinh xuất tấn công trước. Lúc này, Trương Phụ nắm tình hình biết nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần không được lòng dân, qua mấy năm cai trị thực hiện các chính sách cũng không được dân ủng hộ, so với trước thì cuộc sống người dân càng khó khăn hơn nên lòng người oán thán.

Vì thế Trương Phụ cho khắc vào các tấm ván kể tội nhà Hồ, đồng thời nêu rõ quân Minh tấn công là nhằm diệt nhà Hồ vá tìm hậu duệ nhà Trần lên ngôi vua, Rồi cho thả các tấm ván này theo sông vào vùng dân chúng và doanh trại quân nhà Hồ.

Một số người đã hàng quân Minh. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Nhiều người dân dù đọc được thông tin này vẫn kiên định thực hiện “vườn không nhà trống” nhằm tuyệt nguồn lương cho quân Minh. Nhưng một số binh lính cũng như một số bậc trí thức lại đem cả gia quyến ra hàng quân Minh. Các tướng Mạc Thúy và Nguyễn Huân đem 10.000 quân ra hàng phục, đồng thời nói rõ tình hình cũng như cách bố trí thế trận phòng ngự của Hồ Nguyên Trừng. Trong quân nhà Hồ nhiều người cũng dao động.

Vậy là quân Minh nắm hết cách bố trí của quân nhà Hồ. Quân Minh tấn công vào điểm yếu của quân nhà Hồ là bãi sông Bạch Hạc. Quân nhà Hồ bị đánh gấp, viện binh không tới kịp đành rút về phía Nam sông Hồng phòng thủ. Quân Minh chiếm được Việt Trì và phía Bắc sông Bạch Hạc.

(Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Đêm 15/1/1407, quân Minh cho thuyền vượt sông tiến xuống phía Nam, thủy quân nhà Hồ ra nghênh chiến đánh mạnh, quân Minh thua chạy phải rút chạy về. Tướng quân Minh liền đem những binh sĩ bỏ chạy xử theo quân pháp, một số lớn bị chém để răn đe, khiến sau này quân Minh liều chết mà cố xông lên chứ không dám tự ý rút về.

Đêm 17/1/1407, Trương Phụ cho quân âm thầm bí mật tấn công bãi sông Mộc Hoàn ở bờ Nam (nay là xã Cổ Đô huyện Ba Vì, Hà Nội). Đây là vị trí chiến lược quan trọng nên quân nhà Hồ chủ yếu là quân tinh nhuệ. Thế nhưng tướng nhà Hồ là Nguyễn Công Khôi không đốc thúc quân tuần tra phòng bị, đêm hôm lại chỉ lo vui nữ sắc, khiến quân Hồ bị đánh bất ngờ trở tay không kịp. Quân nhà Hồ bị tiêu diệt gọn, các chiến thuyền bị cháy gần hết. Trận đánh ở bãi sông Mộc Hoàn diễn ra nhanh đến nỗi quân nhà Hồ đóng gần đấy cũng không thể ứng cứu kịp.

Quân Minh bí mật tấn công. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Quân Minh cho quân bắc cầu phao sang bờ Nam để tiếp tục tiến đánh. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng cho quân rút vào thành Đa Bang cố thủ. Tòa thành này nằm ở xã Cổ Pháp, tổng Thanh Mai, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây cũ (nay là khoảng địa bàn các xã Phú Đông, Phong Vân và Vạn Thắng huyện Ba Vì, Hà Nội).

Thần cơ thương pháo chuẩn bị đối mặt quân Minh

Tướng nhà Minh là Mộc Thạnh rất cẩn trọng dùng binh, qua quan sát thế trận đã bàn với Trương Phụ rằng:

“Những hàng rào gỗ mà bên địch dựng lên đều sát liền sông, quân ta không thể tiến lên được. Chỉ có Đa Bang là nơi đất cát bằng phẳng có thể đóng quân, chỗ ấy tuy thành đất khá cao, bên dưới có mấy tầng hào, nhưng khí giới đánh thành của ta đều đầy đủ, đánh mà chiếm lấy cũng có phần dễ.”

Chỉ cần vượt qua thành Đa Bang, quân Minh sẽ tiến được vào thành Đông Đô (nhà Hồ cho đổi tên thành Thăng Long thành Đông Đô), nơi đây tập trung dân cư có thể cướp bóc được của cải lương thực.

Hồ Nguyên Trừng
Hỏa tiễn của quân Minh. (Ảnh từ motthegioi.vn)

Vì tính chất quan trọng này, Trương Phụ tập trung quân tướng khích lệ rằng:

“Quân giặc chỉ cậy có thành này, mà chúng ta lập công cũng ở một trận này; tướng sĩ nào trèo lên thành được trước, sẽ đặc cách hậu thưởng không câu nệ theo thứ bậc thông thường.”

Đồng thời Trương Phụ răn đe quân lính không được tự ý rút chạy khi chưa có quân lệnh, nếu làm trái quân lệnh sẽ bị xử chém.

Quân Minh đưa quân sang bờ Nam để tiếp tục tiến đánh thành Đa Bang. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Đến đêm tối Trương Phụ trập trung toàn quân chia 2 cánh tiến đánh thành Đa Bang với vũ khí công phá thành. Quân Minh đông như kiến lớp lớp hướng tới.

Trong thành Đa Bang là Hồ Nguyên Trừng cùng thần cơ thương pháo, ngoài thành là muôn vạn đại quân Minh đang kéo đến, sau lưng là thành Đông Đô với nhiều khu vực dân cư được dời về nơi đây để tránh giặc. Đó chính là hoàn cảnh mà súng thần cơ phải triển hiện uy lực của nó.

(còn nữa)

Trần Hưng

Xem thêm: