“Binh Pháp Tôn Tử” là tác phẩm quân sự ra đời sớm nhất trong lịch sử văn minh nhân loại. Hệ tư tưởng bác đại tinh thâm và tiếng tăm của “Binh Pháp Tôn Tử” vẫn lừng lẫy suốt hàng trăm ngàn năm qua, còn được xưng là “Binh gia thánh điển”. Nhưng kỳ thực, theo các nhà phân tích bình luận nhiều đời thì những sách lược trong “Binh Pháp Tôn Tử” đều không nằm ngoài hai chữ “âm dương”.

Binh pháp Tôn Tử
(Hình ảnh: Qua pinterest)

Tư tưởng Đạo gia trong “Binh Pháp Tôn Tử”

Mười ba thiên của “Binh Pháp Tôn Tử” đưa ra rất nhiều quan điểm độc đáo, không chỉ hữu ích cho người thời ấy mà còn là những pháp tắc không hề thay đổi cho muôn đời sau.

Ngoài ra, sự xuất hiện của những thuật ngữ binh gia trong 13 thiên này không chỉ được nhà binh kế thừa đến ngày nay mà còn là nét độc đáo trong binh học. Ví như những từ mang tư tưởng đối lập: Trước sau, chủ khách, thực hư, chính kỳ… Sự xuất hiện và phát triển của những thuật ngữ này không chỉ thúc đẩy sự phát triển của binh học cổ đại mà còn có sự cộng sinh với các học thuyết của Bách gia chư tử. Những tư tưởng này càng là bắt nguồn trực tiếp từ tư tưởng triết học cao nhất của Trung Hoa – Tư tưởng Đạo gia.

Trong chương 2 của “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử đưa ra quan điểm: “Thiên hạ giai tri mĩ chi vi mĩ, tư ác hĩ; giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện hĩ. Cố hữu vô tương sinh, nan dịch tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy”, ý nói rằng: Bởi vì thiên hạ đều biết, tốt là tốt, nên tự đã có xấu rồi. Bởi vì thiên hạ đều biết, thiện là thiện, nên tự đã có ác rồi. Cho nên, “có” với “không” là tương sinh, “khó” với “dễ” là là tương thành, “dài” với “ngắn” là cùng hình, “cao” với “thấp” là cùng chiều, “âm” với “thanh” là tương hòa, “trước” với “sau” là cùng theo.

Ông chỉ ra rằng, vạn vật trong thế gian đều tồn tại hai chủng vật chất đối lập lẫn nhau. Nhưng giữa hai chủng vật chất đối lập này lại có sự tương hỗ lẫn nhau, dựa vào nhau mà tồn tại, liên hệ với nhau tạo thành một thể thống nhất. Bất luận là một phía nào cũng không thể tồn tại độc lập được. Phép biện chứng này vạch ra tính đối lập thống nhất của sự vật.

Trong chương 14 của “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử lại tiến thêm một bước đưa ra khái niệm: “Phản giả đạo chi động”, ý nói luật vận hành của đạo là trở lại lúc đầu. Khái niệm này nói cho chúng ta biết quy luật rằng hai phía đối lập đều sẽ thúc đẩy lẫn nhau và chuyển hóa lẫn nhau. Loại tư tưởng biện chứng mộc mạc này, Lão Tử gọi là “Vạn vật phụ âm nhi bão dương” (Vạn vật đều cõng âm mà ôm dương). Còn dùng một câu trong “Dịch Kinh” để tổng kết thì chính là “Nhất âm nhất dương chi vị đạo”, ý nói, âm dương hòa hợp là cái đạo của đất trời. Trong “Binh Pháp Tôn Tử” vận dụng nhiều loại tư tưởng này.

Sách lược trong “Binh Pháp Tôn Tử” không nằm ngoài hai chữ “âm dương”

trí giả
(Hình minh họa: Qua pinterest)

Nếu chúng ta dùng “âm” và “dương” đại biểu hai loại lực lượng của vũ trụ, thì trong “Binh Pháp Tôn Tử” có nhắc nhiều đến những thuật ngữ đều là quy về loại khái niệm này. Ví dụ: “Thiên vi dương, địa vi âm” (Trời là dương, đất là âm). “Nhật vi dương, nguyệt vi âm” (Mặt trời là dương, mặt trăng là âm). “Sinh vi dương, tử vi âm” (Sống là dương, chết là âm). “Tiên vi dương, hậu vi âm” (Trước là dương, sau là âm). Hình vi dương, thế vi âm (hình dạng là dương, xu thế là âm). Công vi dương, thủ vi âm (Tấn công là dương, phòng thủ là âm). Khách vi dương, chủ vi âm (Khách là dương, chủ là âm). Chính vi dương, kì vi âm (Chính binh là dương, kỳ binh là âm). Thật vi dương, hư vi âm (Chân thật là dương, hư ảo giả dối là âm).

Từ trên đây có thể thấy, những thuật ngữ này trong 13 thiên của “Binh Pháp Tôn Tử” đều là nghĩa rộng của từ “âm dương” mà ra. Mà những tư tưởng triết học này chính là đến trực tiếp từ  hệ thống Đạo gia.

Trong “Binh Pháp Tôn Tử.  Thiên Thế” viết: “Chung nhi phục thủy, nhật nguyệt thị dã. Tử nhi phục sinh, tứ thì thị dã”, ý nói, tuần hoàn đến cuối lại về đầu là như mặt trời mặt trăng thay nhau vận hành, đi rồi lại đến, đến rồi lại đi là như bốn mùa tuần tự. Trong đó cũng viết: “Chiến thế bất quá kì chính, kì chính chi biến, bất khả thắng cùng dã. Kì chính tương sinh, như tuần hoàn chi vô đoan, thục năng cùng chi”, ý nóihình thức tác chiến rốt cục cũng chỉ có “kì binh” hay “chính binh” nhưng “kì binh”, “chính binh” biến hóa đến vô tận khôn lường. Sự chuyển hóa lẫn nhau giữa “kì binh” và “chính binh” như một vòng tuần hoàn, không đầu không cuối, không ai biết tận. Đây chính là đem quan điểm biện chứng đối lập thống nhất trong Đạo gia để  khai triển trong binh gia.

Trong phần “Hư thực thiên” trình bày và phân tích quan điểm: “Binh hình tượng thủy” càng là lấy tư tưởng “thượng thiện nhược thủy” trong Đạo gia đưa vào binh gia, đem lại cho “Binh Pháp Tôn Tử” một nội hàm riêng, sâu rộng.

Có thể thấy rằng, xưa nay về binh thư chiến sách Tôn Tử thì có ngàn kinh vạn luận nhưng kỳ thực đều không ra ngoài hai chữ “âm dương”. Đây cũng là điểm then chốt của Binh pháp nói chung và “Binh Pháp Tôn Tử” nói riêng.

An Hòa (dịch theo sự cho phép của tác giả)

Xem thêm: