Các bậc trí thức, thánh hiền và trung thần nghĩa sĩ thời cổ đại đều thông qua tu thân dưỡng tính mà nhân phẩm đạt tới cảnh giới tinh thần cao thượng. Họ vì hậu nhân mà để lại rất nhiều những câu danh ngôn hàm chứa chân lý và đạo lý làm người, trải qua hàng ngàn năm đến nay vẫn là di sản tinh thần quý giá. 

Chuyện xưa: Làm thế nào mới có thể trở nên đại lượng?

Thủy tổ của Đạo gia, Lão Tử từng giảng: “Phú quý giả tống nhân dĩ tài, nhân nhân giả tống nhân dĩ ngôn” (tạm dịch: Người phú quý tặng người của cải, người nhân ái tặng người lời nói). Trong “Luận Ngữ”, thủy tổ của Nho giáo, Khổng Tử cũng để lại câu danh ngôn: “Bất nghĩa nhi phú thả quý, vu ngã như phù vân” (tạm dịch: Bất nghĩa mà giàu có, đối với ta cũng như phù vân).

Triều nhà Tống, Nhạc Phi là người anh hùng “tận trung báo quốc”. Có người từng hỏi ông: “Thiên hạ đến bao giờ có thể thái bình?” Nhạc Phi trả lời: “Khi quan văn không tham tiền, quan võ không sợ chết thì thiên hạ mới có hy vọng thái bình”. Văn Thiên Tường, trung thần triều Tống cũng để lại cho hậu nhân một câu nổi danh thiên cổ: “Đời người, từ xưa đến nay ai mà không chết, lưu giữ tấm lòng son trung chiếu sáng sử sách.”

Cùng với những câu danh ngôn và giai thoại của các bậc hiền nhân, trung thần này, danh thần triều nhà Tống, Phạm Trọng Yêm tuy rằng không làm ra những việc to lớn vĩ đại, “kinh thiên động địa”, nhưng trong “Nhạc Dương Lâu Ký”, ông cũng để lại cho người đời sau một câu danh ngôn được tán dương hàng ngàn năm qua: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi nhạc nhi nhạc” (tạm dịch: Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).

Câu danh ngôn “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi nhạc nhi nhạc” có xuất xứ từ cuốn “Nhạc Dương Lâu Ký”. Nguyên văn của câu nói này là: “Bất dĩ vật hỷ, bất dĩ kỷ bi, cư miếu đường chi cao, tắc ưu kì dân; xử giang hồ chi viễn, tắc ưu kì quân. Thị tiến diệc ưu, thối diệc ưu; nhiên tắc hà thì nhi nhạc da? Kì tất viết: ‘ tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi nhạc nhi nhạc dư!”

Ý tứ của đoạn văn trên chính là, đừng vì của cải vật chất phong phú giàu có (vật ngoại thân) mà tự hào, mừng rỡ. Cũng đừng bởi vì thất ý, thất vọng của bản thân mà bi thương. Khi còn giữ chức vị cao trong triều đình thì lo cho dân, chỉ e sợ dân cơ hàn khổ cực. Khi không còn giữ chức vị trong triều đình, rời xa việc triều chính thì vì quốc quân mà lo lắng, chỉ e quốc quân có điều thiếu sót. Nói như vậy nghĩa là, họ dù ở trong hay ở ngoài thì đều lo. Nếu được hỏi, vậy khi nào mới vui? Họ nhất định sẽ trả lời: Khi người dân trong thiên hạ còn chưa có cảm giác lo thì đã lo rồi, sau khi thiên hạ đã vui mừng rồi thì mới vui mừng (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).

“Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” chính là phương châm sống của những trí thức tài đức thời xưa nói chung và của danh thần Phạm Trọng Yêm nói riêng.

Thời nhỏ, một vị thầy tướng từng hỏi Phạm Trọng Yêm vì sao lại có chí hướng muốn làm lương tướng hoặc lương y. Phạm Trọng Yêm đáp rằng: “Bởi vì chỉ có làm Tể tướng lương thiện và Thầy thuốc lương thiện mới có thể cứu được người!” 

Vị thầy tướng nghe xong, trong lòng vô cùng cảm động, ông thầm nghĩ: “Một đứa trẻ nhỏ tuổi như vậy mà mỗi một niệm đều là nghĩ cách muốn cứu người. Thật cảm động!”

Vừa nghĩ vậy trong đầu, ông liền nói với Phạm Trọng Yêm: “Cậu đã có một cái tâm của một vị Tể tướng chân chính, cho nên sau này, cậu nhất định sẽ làm Tể tướng!” Quả thực về sau này, Phạm Trọng Yêm đã là một vị tể tướng tài đức vì dân vì nước.

Trong mấy chục năm làm quan, Phạm Trọng Yêm sống vô cùng đơn giản. Cho dù khi làm đến chức Tể tướng, ở trên vạn người, gia đình Phạm Trọng Yêm vẫn sống trong ngôi nhà đơn sơ, ăn uống đạm bạc.

Có người từng muốn xây cho ông một ngôi nhà mới khang trang, nhưng ông nói: “Điều con người nên theo đuổi là đạo nghĩa. Một người nếu trong lòng có đạo nghĩa thì vô luận là ở đâu đi nữa trong lòng cũng luôn vui vẻ.”

Phạm Trọng Yêm không để lại tài sản, đất đai cho con cháu, thậm chí ông còn dùng toàn bộ tiền tiết kiệm của cả đời để mua đất mở trường dạy học, đào tạo ra những người tài đức cho xã hội và cứu tế người nghèo. Cả đời ông, nhiều lần vì lên tiếng cho việc chính nghĩa mà bị giáng chức mấy lần.

Ông từng ba lần bị giáng chức, bị điều đến nơi ngoại thành xa xôi, nhưng ông không vì điều đó mà cảm thấy bi thương, đau buồn, cũng không vì cái lợi của bản thân mà làm ngơ trước những điều bất nghĩa. Đó đều là bởi vì ông lo lắng cho cuộc sống của dân, đúng với phương châm sống “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” của ông.

An Hòa

Xem thêm: