Võ Đang sơn còn được gọi là Thái Hòa sơn, Huyền Nhạc sơn, nằm ở phía nam thành phố Thập Yển, tây bắc của tỉnh Hồ Bắc. Phía bắc thông với núi Tần Lĩnh, phía nam tiếp giáp với ngọn Ba Sơn. Võ Đang sơn là dãy núi cao sừng sững và nhấp nhô, kéo dài hàng trăm km. Võ Đang sơn từ xưa đến nay được xưng là “Thiên hạ danh sơn”, cũng là thắng địa Đạo giáo nổi danh của Trung Hoa.

võ đang
(Hình: Qua pinterest)

Theo ghi chép trong “Thái Hoà sơn chí”, cuối thời Đông Hán, sau khi Đạo giáo sản sinh, núi Võ Đang được tôn là Tiên sơn, Đạo sơn. Võ Đang sơn được xưng là Trung Hoa Đạo giáo đệ nhất sơn. Theo truyền thuyết, hai chữ “Võ Đang”, tên của núi lấy từ câu: “Phi chân võ bất túc dĩ đang chi”, ý tứ là không phải chân võ thì không đủ để ở lại. Đa số tên gọi khác của núi Võ Đang đều có nguồn gốc từ Đạo giáo cùng với việc thờ phụng Thần Tiên, cho nên núi có tên là “Đệ nhất tiên sơn”.

Tương truyền rằng, vào thời thượng cổ, Chân Vũ Đế đã đắc Đạo phi thăng tại đây. Từ xưa đến nay, Võ Đang sơn là nơi lý tưởng để các Đạo gia theo đuổi tiên cảnh. Các triều đại trong lịch sử đều có người đến Võ Đang sơn lấy cỏ kết thành am, dốc lòng tu luyện như Doãn Hỉ triều nhà Chu, Âm Trường Sinh triều nhà Hán, Tạ Doãn triều nhà Tấn, Lữ Thuần Dương triều nhà Đường, Tịch Nhiên Tử triều nhà Tống, Y Cát của triều nhà Chu, Tạ Sung của triều nhà Tấn, Trần Cật của Ngũ Đại, Trương Tống Thanh triều nhà Nguyên và nổi danh nhất là Trương Tam Phong đời nhà Minh.

Có câu rằng: “Sơn bất phong bất danh”, từ sau khi thành lập Đạo giáo thời Đông Hán, Đế Vương các triều đại từng nhiều lần lên núi Võ Đang cử hành nghi thức phong sơn. Bởi vậy mà Võ Đang sơn càng ngày càng nổi tiếng. Đơn cử như, trong năm 627-649 niên hiệu Trinh Quán triều nhà Đường gặp phải đại nạn. Hoàng đế Đường Thái Tông đã phái người lên Võ Đang sơn cầu mưa. Sau khi cầu mưa linh nghiệm, Hoàng đế đã “phong sơn” ban cho xây dựng “Ngũ Long từ” trên Võ Đang sơn. Thời Tống, Nguyên, các kiến trúc không ngừng được xây dựng tăng thêm.

Sau khi Minh Thành Tổ Chu Đệ lên ngôi, vào năm Vĩnh Lạc thứ 11 (năm 1413) đã cho điều động hơn 30 người dân công cùng thợ đến xây dựng công trình kiến trúc ở này. Trải qua 10 năm, hình thành quần thể kiến trúc hùng vĩ bao gồm: 8 cung, 2 quán, 36 am đường, 72 nham miếu, cùng với 39 cầu, 12 đình đài và “Thần đạo” lên núi được lát toàn đá xanh. Diện tích kiến trúc lên tới 160 vạn m2 và kéo dài hơn 70 cây số. Từ đó, núi Võ Đang trở thành trung tâm Đạo giáo của khu vực, Hoàng đế các triều đại đều hết sức tôn sùng Võ Đang sơn.

võ đang
(Hình: Qua kknews)

Cảnh sắc thiên nhiên của Võ Đang sơn tươi đẹp, kỳ phong tuấn tú. Toàn bộ thắng gồm có 72 đỉnh, 36 hang, 24 khe, 11 động, 3 đầm, 9 suối, 10 ao, 9 giếng, 10 thạch, 9 đài. Đặc biệt là “72 đỉnh” trổ lên từ mặt đất vô cùng hùng vĩ. Trong đó “Thiên trụ phong” là đỉnh chính, độ cao so với mực nước biển là 1612m, vươn thẳng trong mây, giống “nhất trụ kình thiên” (một cột trụ chống trời).

Hiện tại về cơ bản, Võ Đang sơn giữ được hệ thống kiến trúc đầu đời Minh, bảo tồn tương đối hoàn chỉnh như: Kim điện, Cổ đồng điện cùng 6 cung gồm: Tử Tiêu, Nam Nham, Vu Chân, Thái Hoà, Ngũ Long, Ngọc Hư, 2 quán gồm: Phục Chân, Nguyên Hoà. Phần lớn những kiến trúc này được xây dựng ở những nơi hiểm trở như đỉnh núi, sườn núi, hang động, khe…  Ở kiến trúc cung quán, các vật được đúc bằng đồng, hoặc điêu khắc bằng gỗ, đá đều có giá trị nghệ thuật rất cao. Vì thế mà được ca tụng là “đồng chú nghệ thuật bảo khố”.

Võ Đang sơn còn nổi tiếng trong và ngoài nước về “Võ Đang quyền thuật”. Quyền thuật này do Trương Tam Phong thời Bắc Tống (có thuyết nói là thời nhà Minh) khai sáng khi ông cất lều tranh tu đạo tại nơi đây, cương nhu kiêm bị, trở thành một lưu phái quyền thuật trọng yếu của cả nước. Nó cùng võ thuật phái Thiếu Lâm ở Tung sơn nổi tiếng ngang nhau. Nhiều du khách nước ngoài chưa biết núi Võ Đang nhưng đã biết trước đến “Võ Đang quyền thuật”.

Kim điện trên đỉnh Thiên trụ phong, đỉnh cao nhất của núi Võ Đang, được xây dựng vào năm Vĩnh Lạc thứ 14 đời nhà Minh (năm 1416). Đây được xưng là tinh hoa trong quần thể kiến trúc cổ sơn ở Võ Đang. Chiều ngang và chiều sâu của Kim điện đều có 3 gian, điện cao 5,5m, rộng 5,8m, sâu 4,2m, toàn bộ đều bằng vàng, cấu kiện ráp mộng mà thành, là kiến trúc bằng đồng và vàng lớn nhất hiện còn ở Trung Quốc. Trong Kim điện thờ tượng Chân Võ Tổ Sư Đại Đế bằng đồng mạ vàng, nặng khoảng 10 tấn, hai bên có tượng Kim đồng bưng sổ, Ngọc nữ bưng ấn. Hai tướng Thuỷ Hoả cầm cờ bưng kiếm, góc cờ như lay động, bảo kiếm rút khỏi vỏ, thần thái rất sống động. Nền điện là bệ đá xây bằng đá hoa cương, chung quanh có lan can chạm khắc, rất trang nghiêm và rực rỡ.

Võ Đang sơn còn là một “thiên nhiên dược khố” (kho thuốc thiên nhiên). Trong 1800 loại dược vật mà Đại y dược học gia Lí Thời Trân ghi lại trong “Bản thảo cương mục ” thì riêng Võ Đang sơn đã có hơn 400 loại. Theo truyền thuyết, năm đó Lí Thời Trân muốn tìm một loại dược liệu trân quý là “Mạn đà la”, từng đi khắp danh sơn đại xuyên nam bắc nhưng đều không tìm được, cuối cùng ông đã tìm thấy loại trân quý này ở Võ Đang sơn.

Truyền thuyết về đá Thử Lòng trên núi Võ Đang

võ đang
(Hình: Qua chinatravelpage)

Trên núi Võ Đang có một vực thẳm vô cùng hiểm trở, vách núi bên vực thẳng đứng lên trời cao. Đây chính là “vực Phi Thăng” nổi danh. Trên vách núi ấy có một tảng đá lớn nhô lên gọi là “Thí Tâm thạch” (đá Thử Lòng). Có một truyền thuyết kể về đá thử lòng này như sau:

Tương truyền trước đây thật lâu có một cặp anh em song sinh giống nhau như đúc. Nhưng người anh thì trung hậu lương thiện hay giúp đỡ người khác còn người em lại lười biếng, hết ăn rồi lại nằm và còn đi ăn trộm.

Một ngày, người em biết gia đình hàng xóm đi xa nên đã lẻn vào ăn trộm giữa buổi đêm hôm đó. Nhưng anh ta vừa thò đầu vào thăm dò đã bị chủ nhà nấp ở sau cánh cửa đâm cho mù mắt trái. Từ hôm đó, người anh luôn khuyên bảo người em hối cải để làm một người tốt, người em vì đau đớn nên cũng chấp nhận nghe theo lời người anh mà sửa đổi. Người anh liền dẫn người em lên núi Võ Đang để thề trước Thần tỏ ý hối cải.

Hai anh em họ đang đi trên đường thì gặp một ông lão tóc bạc phơ, lưng hơi còng và đang cõng một túi đồ vật nặng trĩu. Ông lão nói với hai anh em họ rằng: “Ta trước đây là kẻ trộm, hôm nay muốn làm người tốt nên đã đem số nguyên bảo quý hiếm này đến làm tiền hương khói, cống hiến cho Chân Vũ Đại Đế.” (Chân Vũ Đại Đế là người tu hành trên núi Võ Đang).

Người em liền đem những việc mình đã làm trước đây kể với ông lão, ông lão nghe xong liền nói: “Thần tiên rất mến mộ những người biết cải sửa. Còn đối với người mà ngôn hành bất nhất thì sẽ không muốn để ý đến.”

Trong lúc đang nói chuyện thì hai khối nguyên bảo lớn từ trong túi của ông lão rơi ra. Người em vừa nhìn thấy hai thỏi vàng sáng lấp lánh lăn ra đã nổi lòng tham. Không ngờ, người anh chạy lên trước người em và nhặt hai thỏi vàng lên rồi đưa trả lại cho ông lão. Ông lão nói với người anh: “Ngươi là một người lương thiện, số vàng này ta tặng cho ngươi!” Người anh cho rằng “không làm thì không hưởng công” nên đã từ chối nhận. Người em thấy vậy liền mắng người anh: “Ngươi là một người đại ngu dốt!”

Ba người họ tiếp tục đi trên con đường nhỏ ở trong núi Võ Đang. Người anh luôn theo sát ông lão để đỡ hộ ông còn người em thì luôn nghĩ cách để làm thế nào cho số nguyên bảo kia thuộc về mình. Lúc đi đến vực Phi Thăng, ông lão nói: “Ta vừa mệt lại vừa khát nên muốn ngồi nghỉ một lát.” Người anh thấy vậy liền rời đi để tìm nước uống. Người em thấy cơ hội đã đến liền đẩy ông lão xuống vực.

Khi người anh lấy nước trở về, không nhìn thấy ông lão đâu, người em kể lại hết đầu đuôi sự việc xảy ra. Người anh nghe xong cảm thấy hối hận vô cùng. Anh ta hối tiếc vì bản thân đã tin em trai mình mà khiến ông lão phải chết oan uổng. Sau khi trách mắng người em xong, người anh liền thả người xuống vực sâu vạn trượng. Người em vui mừng như mở cờ trong bụng cho rằng mình đã độc chiếm được toàn bộ số nguyên bảo đó mà không ai biết. Đang lúc vui mừng khôn xiết, anh ta lại phát hiện ra túi nguyên bảo kia toàn là đá.

Lúc này, trong không trung vang lên tiếng cười lớn của ông lão tóc bạc kia. Người em ngẩng đầu nhìn lên chỉ thấy ông lão và anh trai mình đang đứng trên tầng mây xanh. Ông lão chỉ vào chiếc túi rồi biến nó thành một tảng đá to lớn và nói: “Thứ mà ta vác trên lưng vốn không phải là nguyên bảo mà là “Thí Tâm thạch!”

Từ đó về sau, truyền thuyết về tảng đá “Thí Tâm thạch” trên núi Võ Đang được lưu truyền cho đến ngày nay.

An Hòa (dịch và t/h)

Xem thêm: