Trong “Nhẫn Kinh” viết: “Người xưa có nói, người nào có thể dùng mũi hít vào ba đấu giấm, thì có thể làm Tể tướng. Người có thể làm Tể tướng là dựa vào tài năng của họ, người có thể làm đại thần ở chốn triều đình là bởi vì có khí lượng to lớn.”

nhường nhịn
(Hình minh họa: Qua Ydvn.net)

“Nhẫn” là pháp bảo đối nhân xử thế

Hàn Sơn và Thập Đắc là những nhân vật nổi tiếng và độc đáo trong lịch sử Phật Giáo. Xưa kia, Hàn Sơn từng hỏi Thập Đắc rằng: “Trong thế gian có người phỉ báng ta, nhục mạ ta, chê cười ta, coi thường ta, chà đạp ta, vậy thì ta phải đối xử thế nào?”

Thập Đắc nói: “Ta chỉ cần nhẫn hắn, nhịn hắn, nhường hắn, tránh hắn, chịu đựng hắn, đừng để ý đến hắn, chờ mấy năm sau hãy gặp lại hắn.”

Trong “Thượng Thư” ghi lại lời Chu Thành Vương bố cáo trước quần thần: “Nhất định phải nhẫn mới có thể thành công. Khoan dung thì đức sẽ lớn”. Nghĩa là con người ta nhất định phải có tâm nhẫn nại thì mới có thể làm thành được mọi việc. Người có thể khoan dung thì đạo đức mới có thể cao thượng.

Trong “Nhẫn Kinh” cũng viết: “Người xưa có nói, người nào có thể dùng mũi hít vào ba đấu giấm, thì có thể làm Tể tướng. Bởi người có thể làm Tể tướng là dựa vào tài năng của họ, người có thể làm đại thần chốn triều đình là vì có khí lượng to lớn.” Phạm Chất, tự Văn Tố là đại danh nhân, được phong làm Tể tướng thời Hậu Chu. Thời Tống Thái Tổ được phong làm Thái phó. Ông từng nói với đồng sự của mình rằng: “Người nào nếu dùng mũi hít vào ba đấu giấm thì có thể làm Tể tướng.”

Trong “Lưu Hầu luận”, Tô Thức cho rằng: Thời xưa, người được xưng là dũng sĩ nhất định là có tiết tháo hơn người, có thể chịu đựng được cả những việc mà người thường không thể chịu đựng được. Người “hữu dũng vô mưu” khi bị vũ nhục, nhất định sẽ rút kiếm, đây không thể được gọi là dũng sĩ. Dũng sĩ thực sự trong thiên hạ, khi gặp những sự tình bất ngờ đều không bị kinh hoảng, khi vô cớ bị người khác vũ nhục, cũng thấy bình thường, không phẫn nộ. Đây thường là bởi vì họ có ý chí, khát vọng vô cùng lớn, chí hướng cao xa phi thường.

Có thể nói, nhẫn nhịn khiêm nhượng luôn là mỹ đức truyền thống mà cả Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đều hàm chứa và đề cao. Từ xưa đến nay, phàm là anh hùng hào kiệt hay chí sĩ đầy lòng nhân ái sáng chói sử sách đều có khả năng “nhẫn” được cả những việc mà người đời khó nhẫn.

Người làm việc lớn nhất định phải “nhẫn”

nhẫn
(Hình minh họa: Qua kknews)

Bính Cát thời Tây Hán, tự là Thiếu Khanh, người nước Lỗ. Thời Hán Tuyên Đế, ông được phong làm Bác Dương Hầu, sau lại được phong làm Thừa tướng. Ông là người có tính tình khoan dung nhân hậu.

Bính Cát có một người đánh xe rất thích uống rượu, từng có lần theo Bính Cát ra ngoài, sau khi uống rượu say đã nôn trên xe của Thừa tướng. Chủ lại Tây Tào của Bính Cát nói với ông rằng phải trách mắng người đánh xe thật nặng và đuổi việc anh ta.

Bính Cát nghe xong, nói rằng: “Vì say rượu mà đuổi anh ta, anh ta biết tìm nơi nào dung thân? Anh ta chẳng qua chỉ làm bẩn xe của Thừa tướng thôi.”

Người đánh xe này là người ở vùng biên cảnh, rất biết tình hình quận huyện nơi biên cương. Anh ta từng ra ngoài, gặp đúng lúc thấy một dịch sứ mang một cái túi có màu đỏ màu trắng chạy đến. Người đánh xe liền đuổi theo dò hỏi thông tin, sau đó đem tình hình dân tộc thiểu số nơi biên cương nói cho Bính Cát biết.

Chẳng bao lâu, Hán Đế triệu kiến đại thần, hỏi về tình hình dân tộc thiểu số nơi biên cương. Bính Cát trả lời tường tận, các đại thần khác trả lời không được, bị Hoàng đế trách mắng. Về tình hình biên cương mà Bính Cát biết được đều là nhờ người đánh xe. Cho nên Bính Cát cảm thán rằng: “Không có người nào mà không thể dung nạp, mỗi người đều có sở trường của mình. Nếu ta không nghe những lời của người đánh xe thì làm sao có thể được Hoàng đế khen thưởng!”

Trương An Thế thời Tây Hán, tự là Tử Nhụ, con của Trương Thang. Dựa vào công trạng của cha nên ông được phong là Quang Lộc Huân.

Một lần, có một người đàn ông sau khi uống rượu say đã tiểu tiện trên điện. Người quản lý muốn phạt anh ta, nhưng Trương An Thế lại nói rằng: “Làm sao có thể bắt một người uống nước mà không cho thải ra ngoài? Làm sao có thể vì một sai lầm nhỏ mà xử phạt họ.”

Trong cuộc đời của mình, Trương An Thế luôn dùng tấm lòng bao dung mà tha thứ cho lỗi lầm của người khác. Thời Hán Chiêu Đế, Trương An Thế giữ chức Hữu tướng quân, đến thời Tuyên Đế, ông cũng được phong chức Đại tư mã Xa kị tướng quân.

Tể tướng là người phò tá Hoàng đế, nắm giữ trong tay hầu hết mọi việc triều chính. Khí chất của Tể tướng tối chủ yếu là lòng độ lượng và có thể dùng người. Khi viên tiểu lại uống rượu say nôn trên xe, Bính Cát đã không giận. Sau này chính viên tiểu lại này đã nói cho Bính Cát biết rõ nhiều sự tình nơi biên cương, khiến Bính Cát trả lời rất tốt những vấn đề của Hoàng đế. Trương An Thế không trị tội người đã tiểu tiện trên điện sau khi uống say. Bính Cát và Trương An Thế độ lượng như thế, thật đúng như cổ nhân nói: “Bụng Tể tướng có thể chèo thuyền” (người có tấm lòng rộng lượng mới làm được Tể tướng).

An Hòa (dịch và t/h)

Xem thêm: