Những tác phẩm kinh điển của người xưa đều ẩn chứa trí tuệ vô cùng thâm sâu. Một bộ “Đạo Đức Kinh” ngắn ngủi với năm nghìn từ, đã nói rõ quy luật xuất sinh, phát triển của vạn sự vạn vật, cùng với quá trình phản bổn quy chân của con người. Bộ “Luận Ngữ” không quá một vạn từ, được tôn sùng là khuê biểu của Nho gia, là bản mẫu để trí thức học tập và kế sách của người chấp chính. Bộ “Binh Pháp Tôn Tử” chưa đến 6000 từ cho đến nay vẫn là “sách gối đầu giường” của rất nhiều nhà quân sự.  Vậy thì “trí tuệ” là gì? Người trí tuệ là người như thế nào?

Trong “Tuân Tử. Tử Đạo” có ghi chép đoạn đối thoại về vấn đề này như sau:

Khổng Tử từng hỏi ba học trò của mình là Tử Lộ, Tử Cống và Nhan Uyên hai vấn đề: “Người có trí tuệ là người như thế nào? Người nhân đức là người như thế nào?”

Tử Lộ cho rằng: “Người có trí tuệ có thể khiến cho người khác hiểu mình, người nhân đức có thể khiến cho người khác yêu thương và bảo vệ mình.”

Tử Cống cho rằng: “Người có trí tuệ có thể hiểu người khác, người nhân đức có thể yêu thương và bảo vệ người khác.”

Nhan Uyên lại cho rằng: “Người có trí tuệ có thể tự hiểu bản thân mình, người nhân đức có thể tự tôn tự yêu bản thân.”

Khổng Tử nghe xong các học trò nói, liền đáp: “Tri giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ”, tức là người có trí tuệ gặp chuyện sẽ không bị mê hoặc; người nhân đức không ưu sầu, phiền lo; người dũng cảm thì không sợ hãi.

Người có trí tuệ có thể có được tri thức phong phú, nhưng người có tri thức phong phú lại chưa chắc có trí tuệ. Bởi vì, trí tuệ bao gồm rất nhiều phương diện như suy nghĩ thận trọng, minh tỏ, phân biệt rõ đúng sai, mưu lược, nhạy bén…

4 câu nói là thiên cơ trong cuốn Thượng Thư

Nói về mưu trí, thời Chiến Quốc, nhà quân sự Tôn Tẫn là người đại mưu trí. Ông phò tá Tề Uy Vương, giành được rất nhiều thắng lợi. “Điền kỵ tái mã” chính là câu chuyện được lưu truyền sâu rộng. Trong “Sử ký” có ghi chép về câu chuyện này như sau:

Tôn Tẫn sau khi đến nước Tề , tướng quân Điền Kỵ vô cùng ngưỡng mộ tài năng của ông, đối đãi ông như khách quý. Điền Kỵ thường cùng Tề Vương và các công tử đua ngựa, tiền đặt cược cho mỗi cuộc đua là rất lớn. Tôn Tẫn phát hiện ra sức ngựa của họ không hơn nhau là mấy, có thể phân thành ba cấp là thượng, trung, hạ. Vì thế, Tôn Tẫn nói với Điền Kỵ: “Ngài chỉ cần quản việc đặt tiền cược, tôi có thể giúp ngài giành chiến thắng.” Điền Kỵ tin tưởng và đáp ứng yêu cầu của Tôn Tẫn.

Lúc cuộc đua sắp bắt đầu, Tôn Tẫn nói: “Bây giờ hãy dùng ngựa hạ đẳng của ngài đấu với ngựa thượng đẳng của bọn họ, dùng ngựa thượng đẳng của ngài đấu với ngựa trung đẳng của bọn họ, lấy ngựa trung đẳng của ngài đấu với ngựa hạ đẳng của bọn họ”.

Quả nhiên, sau ba trận đấu, Điền Kỵ thua một trận, thắng hai trận. Chung cuộc, Điền Kỵ lấy được tiền đặt cược từ Tề Vương. Vì thế, Điền Kỵ tiến cử Tôn Tẫn với Tề Uy Vương, từ đó mới có được nước Tề cường thịnh về sau này.

cổ cầm
(Hình minh họa: Qua kknews)

Trong lịch sử, Gia Cát Lượng thời Tam Quốc được coi là nhân vật đại biểu cho trí tuệ. Dân gian và sử sách lưu truyền rất nhiều câu chuyện về trí tuệ của ông, như kế “thuyền cỏ mượn tên”, “dâng hương đánh đàn”, “mượn gió đông”, “bảy lần bắt bảy lần tha Mạnh Hoạch”…

Điều thần kỳ hơn chính là Gia Cát Lượng có đại trí, trước khi được Lưu Bị đến mời rời núi đã có thể đoán được ba phần vận mệnh thiên hạ, cũng biết rõ nhà Hán mất thiên hạ, không có khả năng phục hưng. Biết rõ những điều ấy, nhưng vì sao Gia Cát Lượng vẫn rời núi phò tá Lưu Bị? Thứ nhất, ông là người thuận theo thiên ý. Thứ hai, ông muốn đền đáp ơn trọng dụng của Lưu Bị. Gia Cát Lượng “cúc cung tận tụy” lưu lại cho hậu nhân không chỉ bài học mưu trí mà còn là bài học trung nghĩa đối với Lưu Bị.

Ông cũng để lại cho hậu nhân tiên đoán “Mã Tiền Khóa”, tiên đoán về lịch sử sau thời Tam Quốc cho đến tận ngày nay.

Trong thế gian còn có một loại trí tuệ gọi là đại trí tuệ hay trí huệ. Phật gia cho rằng, con người đau khổ vì những chấp trước (chấp nhất, dính mắc) về danh, lợi, tình nơi hiện thực thế gian chính là đang tự tạo ra phiền não, thống khổ cho bản thân. Nhưng, thế giới mà con người cho rằng hiện thực ấy, Phật gia lại cho rằng đó là thế giới mê, thế giới đau khổ.

Bởi vậy, trí tuệ của Phật gia là dẫn dắt thiện và tuệ căn (sự lĩnh ngộ) trong tâm con người, dẫn dắt thế nhân từ thế giới giả tướng tiến nhập vào thế giới chân ngã, cuối cùng đạt đến sự viên mãn. Đây cũng là điều mà Phật gia gọi là khai trí, khai huệ. Đây cũng chính là lý do mà chữ “huệ” được sử dụng rất nhiều trong Phật gia như “giới, định, huệ”, bản huệ, khai huệ khai ngộ…

phật thích ca mâu ni
(Hình minh họa: Qua keithberr.com)

Hoàng đế Thuận Trị triều nhà Thanh trong 10 năm tại vị luôn kiềm chế bản thân, chăm lo việc nước, áp dụng nhiều chính sách có lợi cho dân chúng. Ông đồng cảm với nỗi khổ của dân chúng, dùng tiền tu sửa cung Càn Thanh để cứu tế dân. Đồng thời, ông yêu cầu đại thần quan lại phải tiết kiệm trong ăn uống và giải trí, khen thưởng những người giàu có bỏ tiền ra giúp dân, miễn thuế cho những vùng bị nạn…

Hết thảy những vinh hoa phú quý nơi nhân gian đều không làm cho Hoàng đế Thuận Trị cảm thấy vui vẻ, hơn hết, ông cảm thấy hứng thú đối với Phật học. Ông thường mời một vị tăng nhân đại đức đến cung thành giảng kinh. Ông từng nói rằng đời trước bản thân ông nhất định là tăng nhân bởi vì mỗi lần tới chùa đều cảm thấy bồi hồi thật lâu mà không muốn rời đi. Những chính sách mà Thuận Trị đế thi hành và tâm giác ngộ của ông cũng được người đời sau đánh giá là trí huệ.

An Hòa

Xem thêm: