Trung Hoa vốn được xưng là “lễ nghĩa chi bang” (đất nước lễ nghi), có di sản lịch sử phong phú. Trong đó bao gồm lý luận về học thuyết luân lý đạo đức của các thời kỳ lịch sử khác nhau, cùng với những quy phạm đạo đức thống nhất xuyên suốt. Những lý luận và quy phạm đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến con người và văn hoá truyền thống Trung Hoa.

Cách đối nhân xử thế của người quân tử chân chính

Thời cổ đại, cổ nhân đem “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” làm tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá đạo đức của một người là cao hay thấp. Năm đức ấy cũng được coi là nguyên tắc để điều chỉnh các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội, sao cho hợp luân lý đạo đức. Trong “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, “Nhân” (lòng nhân từ, nhân ái) được xếp ở vị trí đứng đầu, cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của “nhân”.

Khổng Tử: “Nhân” là chuẩn tắc của các mối quan hệ trong xã hội

Có rất nhiều nhà tư tưởng, nhà giáo dục đưa ra những luân lý đạo đức, khiến Trung Hoa trở thành “lễ nghi chi bang”. Nổi bật trong số ấy phải kể đến Khổng Tử. Khổng Tử sống vào cuối thời Xuân Thu, tinh thông văn hiến lịch sử đời Thương và đời Chu. Ông đã hấp thụ những di sản văn hoá thời Thương Chu, và đề xuất ra những quan điểm lý luận mới. Ông được sử sách xưng là tư tưởng gia và giáo dục gia đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa đề xuất lý luận luân lý đạo đức. Những tư tưởng và luân lý đạo đức mà ông đề xuất vẫn còn ảnh hưởng to lớn đến con người ngày nay.

Khổng Tử vô cùng coi trọng nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Điều này có quan hệ mật thiết với thời đại mà ông sinh sống. Sự biến động xã hội cuối thời Xuân Thu đã dẫn đến sự biến đổi kịch liệt ở nhiều phương diện như: người với người, quân thần, chư hầu đại phu, phụ tử … từ đó xuất hiện cục diện “lễ hoại nhạc băng”.

Sau khi Chu lễ dần bị phá hoại khiến người ta mất đi chỗ dựa tinh thần và chuẩn tắc hành vi, vì thế một vấn đề xã hội cần được giải quyết ngay lúc ấy là phải dùng chuẩn tắc nào mới có thể chỉ đạo tư tưởng và hành động của con người, mới có thể khiến xã hội ở vào trạng thái ổn định? Các nhà tư tưởng lúc bấy giờ đều phát biểu ý kiến riêng về vấn đề trọng đại này.

Khổng Tử, người sáng lập ra phái Nho gia đã đưa ra một ý kiến rõ ràng rằng: Chuẩn tắc của vấn đề này gọi là “nhân”. Từ “Tả truyện”, “Quốc ngữ – Chu ngữ” chúng ta có thể thấy rõ, trước thời Khổng Tử và cùng thời với Khổng Tử cũng có nhiều người đều nói về “nhân”. Tuy nhiên, không có ai nói một cách có hệ thống, có tính lý luận, giản đơn nhưng lại rõ ràng nổi bật trọng điểm, dễ được mọi người tiếp nhận như Khổng Tử.

“Nhân” trong tư tưởng của Khổng Tử

khoan dung
(Hình minh họa)

“Nhân” là mỹ đức quan trọng bậc nhất trong đối nhân xử thế giữa người và người trong xã hội. Thế nào là “nhân”? Theo Khổng Tử, nhân tức đạo lý làm người. Nói một cách cụ thể cũng chính là chuẩn tắc cần phải tuân thủ để làm một người “quân tử” có tu dưỡng đạo đức, có học vấn. Nói về “nhân” tất nhiên liên quan tới việc làm người như thế nào, cho đến việc xử lý như thế nào cho chính xác về mối quan hệ giữa những người trong gia đình, mối quan hệ giữa vua tôi và bạn bè trong xã hội.

Khổng Tử giáo dục học trò, giảng không ít những lời mang tính triết lý. Học trò của Khổng Tử đem những lời giảng ấy chỉnh lý lại thành bộ “Luận ngữ”. Trong “Luận ngữ”, nhiều chỗ Khổng tử quy định giới thuyết cho “nhân”, mặc dù văn tự giới thuyết có chỗ không giống nhau, nhưng tinh thần cơ bản lại tương đồng với nhau.

Khổng Tử giảng về “nhân” không phải xuất phát điểm từ sự sùng bái tổ tiên, mà là đạo lý làm người một cách chân thực, cũng không phải lấy việc ủng hộ sự hy sinh về một phương diện nào đó làm xuất phát điểm, mà là nghĩ đến lợi ích song phương giữa người với người.

Một lần học trò của Khổng Tử hỏi ông rằng: “Thầy thường giảng về “nhân”, rốt cuộc như thế nào là “nhân”?

Khổng Tử trả lời rằng: “Nhân giả ái nhân” (ý nói nhân là biết yêu thương người)

Gọi là “ái nhân” gồm có hai mặt, một mặt là: “Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân” tức  là những gì mình không muốn thì chớ có làm cho người khác. Một mặt khác là: “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” tức là những gì mình muốn lập thì cũng nên lập cho người khác, những gì mình muốn đạt thì cũng nên cho người khác đạt được. Hai mặt này kết hợp lại gọi là “trung thứ chi đạo”, được xem là nội dung chủ yếu của “nhân”.

Để điều tiết mối quan hệ giữa quân thần, phụ tử, Khổng Tử yêu cầu hai bên phải theo nguyên tắc đạo “trung thứ”, tôn trọng lẫn nhau. Ví dụ, cha muốn con đối với mình phải hiếu, cha phải lấy “từ ái” để đối đãi với con. Con không muốn cha đối với mình “bất từ”, con cũng phải lấy hiếu để phụng dưỡng cha. Tương tự như vậy, vua muốn bề tôi đối với mình phải trung thì vua phải đúng là vua, có phẩm đức làm vua. Nếu vua không ra vua, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha, con không ra con, thế thì trật tự gia đình và trật tự xã hội khó mà ổn định được, mọi thứ sẽ đảo lộn.

5 đức của một người nhân từ

liêm
(Hình minh họa: Qua history.sohu.com)

Rất rõ ràng, từ mấy ví dụ trên có thể thấy, vị vua mà Khổng Tử nói đến như một người quân tử, đều là từ phương diện đạo đức luân lý mà nói. Cũng chính là nói, vua phải tuân thủ quy phạm đạo đức mới có thể trở thành vị vua chân chính. Bởi vậy, “nhân” mà Khổng Tử nói đến là tổng xưng của đạo đức. Trong “Luận ngữ” có ghi chép câu chuyện:

Tử Trương hỏi Khổng Tử về điều nhân. Khổng Tử trả lời rằng: “Làm được năm điều trong thiên hạ thì đó là nhân vậy.”

Tử Trương lại hỏi: “Xin thầy cho biết năm điều đó là gì”.

Khổng Tử giảng: “Năm đức ấy là ‘cung, khoan, tín, mẫn, huệ’. Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám khinh mình. Nếu mình có lòng rộng lượng thì mình thu phục được lòng người. Nếu mình có đức tính thật thì người ta tin cậy mình. Nếu mình cần mẫn siêng năng thì làm được công việc hữu ích. Nếu mình thi ân bố đức gia huệ thì mình sai khiến được người.” (Luận ngữ, Dương hoá, 6).

Ở đây Khổng Tử đề xuất 5 quy phạm đạo đức, bao gồm: “cung” (tự trọng), “khoan” (khoan hậu), “tín” (thành thật), “mẫn” (cần mẫn), “huệ” (quan tâm đến người khác). Tổng hoà của 5 quy phạm đạo đức này được gọi là “nhân”. Khổng Tử giảng về quy phạm đạo đức không giới hạn ở 5 quy phạm này, cũng có lúc ông lại nói “nhân” bao gồm: “ôn” (khiêm hoà), “lương” (thiện lương), “cung” (tự trọng), “kiệm” (kiệm phác), “nhượng” (khiêm nhường).  Một người có được 5 đức này thì chính là một người thực sự nhân từ.

Thời cổ, phàm là chí sĩ nhân ái chân chính sẽ không bởi vì sợ chết mà làm tổn hại đến đức nhân của bản thân. Để thành tựu được đức nhân, họ sẽ không tiếc sinh mệnh của bản thân. Nói tóm lại là, chỉ cần giữ gìn được đức nhân thì đối với họ cái chết cũng không có gì đáng sợ.

Xã hội là một cộng đồng những con người chung sống cùng nhau, giữa họ có rất nhiều mối quan hệ. Nếu mỗi người chỉ biết xuất phát từ lợi ích của mình để đối xử với người khác, chỉ nghĩ đến lợi ích của mình mà không thấy được quyền lợi của người khác thì xã hội sẽ xảy ra biết bao thảm kịch. Một khi, mỗi người đều biết quan tâm, nhường nhịn và hỗ trợ người khác thì không những họ thấy cuộc sống của bản thân yên ấm, hạnh phúc, mà cả cộng đồng của họ cũng có sự gắn bó, bền vững và có nhiều điều kiện để khắc phục những tai nạn do khách quan mang lại. Cho nên, giáo dục lòng “nhân từ”, dùng “nhân từ” để đối đãi với nhau luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Điều này không chỉ đúng với xã hội ngày xưa, mà còn đúng với cả xã hội ngày nay.

An Hòa (dịch và t/h)

Xem thêm: