Cũng như nhiều danh nhân khác, Cao Bá Quát đã bị người đời gán ghép cho những chuyện xét ra phần lớn là ngụy tạo, ngay tiểu sử của ông cũng không minh bạch.

1- Cao Bá Quát sinh năm nào?

Cao Bá Quát là dân ngụ cư ở Thăng Long nhưng quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Kinh Bắc (Bắc Ninh), cách Hà Nội 17 cây số về phía đông.

Nhiều sách viết về Cao Bá Quát đánh dấu hỏi khi đề cập đến năm sinh của ông, có người phỏng đoán ông sinh năm 1800 nhưng không cho biết dựa vào đâu. Sở Cuồng, Lãng Nhân đều nói ông đỗ Cử nhân năm 14 tuổi. Ai cũng biết ông đỗ khoa 1831, vậy ông sinh năm 1831 – 14 = 1817 ?

Song nếu căn cứ vào bài “Thiên cư thuyết” (Câu chuyện dời nhà) của ông ta có thể tính ra được khá chính xác nhờ hai câu trong bài: “Mùa thu năm ngoái, sau khi chiếm được tên trên bảng, định dời nhà đi nơi khác…” và “Tuổi ta mới ngoài hai kỷ mà núi sông thành quách cũ đã thay đổi ba lần…” (1). Cao Bá Quát “chiếm được tên trên vảng” năm 1831, vậy thì bài “Thiên cư…” đựợc viết vào năm sau tức là 1831+1 = 1832. Lúc ấy Cao Bá Quát “mới ngoài hai kỷ”, mỗi kỷ là 12 năm, “ngoài hai kỷ” tức là 2 x 12 = ngoài 24 tuổi. Vậy thì Cao Bá Quát sinh vào khoảng:

1832 – 24 = 1808

Tôi nói “vào khoảng” vì hai chữ “mới ngoài” không cho biết đích xác là bao nhiêu năm, thứ nhất thời xưa tính theo âm lịch nên cuối năm âm có thể lấn sang đầu năm dương lịch. Dù sao thì năm sinh của Cao Bá Quát cũng không thể là 1800 hay 1817.

Hiện nay năm 1808 được chính thức coi là năm sinh của Cao Bá Quát, Hà nội vừa làm lễ kỷ niệm 200 năm sinh của Cao Bá Quát (1808-2008).

2- Tên tự và tên hiệu

Cao Bá Quát là em sinh đôi với Cao Bá Đạt, sinh ra sau nhưng không chịu gọi Đạt bằng anh viện cớ trong bụng mẹ mình ngồi trên nên sinh sau (2). Cụ thân sinh ra hai ông tên là Cao văn Chiếu (Chiến ?) vốn là một cụ Đồ nho, đã đặt tên các con theo một điển tích trong Luận Ngữ: “Lúc triều đại nhà Chu mới lập, có nhiều hiền tài giúp. Một nhà có bốn cặp sinh đôi là Bá Đạt-Bá Quát, Trọng Đột-Trọng Hốt, Thúc Dạ-Thúc Hạ và Quý Tùy-Quý Oa đều là hiền sĩ” (3). Cụ Đồ Cao đặt tên hai con là Bá Đạt, Bá Quát ngụ ý mong cả hai sau này cùng thành những bậc hiền tài, giúp vua trị nước. Tên Chu Thần (bầy tôi nhà Chu) của Cao Bá Quát cùng chung một ý ấy.

Cao Bá Quát có tới ba tên khác nhau vừa là tên tự vừa là tên hiệu: Chu Thần, Mẫn HiênCúc Đường, song có sách nói Chu Thần là tự của ông, sách khác lại cho đấy là hiệu của ông. Căn cứ vào một số sách và từ điển (4) thì Hiệu là “Danh hiệu” “Bút hiệu” do đương sự tự đặt lấy, gói ghém ý nguyện ở trong; Tự là tên chữ Hán, qua tên tự người ta liên tưởng được tên chính. Chu Thần với nghĩa “bầy tôi nhà Chu” đúng là tên tự của Cao Bá Quát. Thơ văn Cao Bá Quát, Danh nhân lịch sử Việt Nam đều chép tự của ông là Chu Thần, hiệu Cúc Đường, bút hiệu là Mẫn Hiên.

3- Học vấn

Cao Bá Quát nổi tiếng “văn hay chữ tốt”, nói đến ông không ai không nhớ đến hai câu :

“Thần Siêu (Nguyễn văn Siêu), Thánh Quát”

và :

“Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán,
Thi đáo Tùng (Tùng Thiện Vương), Tuy (Tuy Lý Vương) thất Thịnh Đường”

tương truyền của vua Tự Đức ngụ ý ca tụng văn thơ hai ông Siêu, Quát vượt cả nhà Hán, nhà Đường (5).

Ngay từ nhỏ hai anh em ông Quát đều có tiếng học giỏi, 14 tuổi đã biết làm đủ mọi thể văn bài trường thi và thi Hạch (6) ông Quát đã đỗ Thủ khoa. Tương truyền kỳ thi Hạch ấy hai anh em ông còn quá trẻ, đầu còn để trái đào, nhưng lại làm xong văn bài trước tiên, cổng trường còn đóng chưa được phép ra về bèn rủ nhau đá cầu đợi giờ mở cổng. Quan trường thấy lạ, gọi lại hỏi rồi ra một vế đối để thử tài :

Nhất bào song sinh, nan vi huynh nan vi đệ
(một bọc sinh đôi, khó biết ai là anh ai là em)

Quát đối :

Thiên tải nhất ngộ, hữu thị quân, hữu thị thần
(nghìn năm mới gập một lần, có vua thế nên mới có bầy tôi như thế)

Vì câu trên trỏ vào hai anh em ông nên câu dưới có thể hiểu là ông Quát mà làm vua thì ông Đạt làm bầy tôi. Quan trường lấy làm kinh dị, sai mở cổng cho hai anh em ông về trước.

Theo Trúc Khê Ngô văn Triện kỳ thi Hạch ấy diễn ra ở Bắc Ninh, đầu đề bài thơ là “Thiếu niên anh tuấn” Quát làm bài rất hay nhưng hai câu cuối thất niêm, các bài khác cũng xuất sắc, quan trường không câu nệ, cố chấp, vẫn cho đỗ Đầu Xứ (7).

Vì ông tuổi trẻ đỗ sớm nên mắc tật kiêu ngạo. Để chứng tỏ tính nết kiêu ngạo của ông, người ta thường kể ông từng tuyên bố: “Thiên hạ có bốn bồ chữ, riêng tôi giữ hai bồ, anh tôi giữ một bồ” (có chỗ chép “Anh tôi là Bá Đạt và bạn tôi là Nguyễn văn Siêu giữ một bồ) còn một bồ chia cho kẻ sĩ khắp thiên hạ”. Song theo cụ Lãng Nhân, Giai thoại làng Nho toàn tập, thì câu này phỏng theo ý của Tạ Linh Vận (Trung quốc) “Trong thiên hạ tài có một thạch (mười đấu), Tào Tử Kiến (Tào Thực, con Tào Tháo) được tám đấu, riêng tôi giữ một đấu còn một đấu phân phát cho khắp kẻ sĩ cổ kim” (8). Như vậy rõ ràng là chuyện bắt chước Trung quốc, liệu có phải Cao Bá Quát đã “cóp” người xưa thật hay vì thấy ông mang tiếng kiêu ngạo mà có người đã đem chuyện này gán ghép cho ông? Bởi vì đã có khá nhiều chuyện người ta nói chắc như đinh đóng cột mà xét ra lại không đúng như sẽ được trình bầy ở phần cuối bài này.

Năm 1831 ông thi Hương, được lấy đỗ Á nguyên (đỗ thứ nhì) trường Hà Nội song khi bộ Lễ duyệt lại hạ xuống đỗ cuối bảng. Người ta cho vì cái tính ngông mà mấy lần thi Hội ông đều bị đánh hỏng. Chẳng hạn gập đầu đề thích ý thì ông bất chấp luật trường quy, có lần làm bài ông viết đủ bốn loại chữ: thảo, lệ, triện, chân. Có người nói vì quan trường ghét tính ông ngông nghênh, kiêu ngạo nên cố ý đánh hỏng. Chuyện này hơi khó tin vì thi Hội các quan trường chỉ được chấm bản sao do các “ông Nghè bút thiếp” chép bằng mực đỏ thì làm sao có thể nhận biết tự dạng của ông mà đánh hỏng? Trừ phi các quan thông đồng với nhau sau khi chấm xong và kháp phách (9), biết đích xác quyển văn nào của ông để đánh hỏng.

4- Hoạn lộ

Tuy đỗ Cử nhân từ khoa 1831 nhưng mãi mười năm sau (1841) ông mới được triệu vào Kinh giữ chức Hành tẩu bộ Lễ, một chức quan hàng thất hay lục phẩm, có nhiệm vụ truyền các mệnh lệnh của vua, của các quan Thượng Thư hay quan đầu nha môn.

Tháng tám năm 1841 ông được cử làm Sơ khảo trường Thừa Thiên. Lúc chấm bài thấy cố mấy quyển viết hay nhưng lỡ phạm trường quy, ông cùng bạn là Phan Nhạ lấy muội đèn (10) chữa hộ. Việc phát giác, Cao bị giam cầm, đánh đập gần ba năm mới thành án trảm, nhờ vua Thiệu Trị tiếc tài, cho giảm án xuống “giảo giam hậu”, tức là đáng lẽ bị chặt đầu thì nay được giam lại chờ ngày bị thắt cổ, được chết toàn thây kể như tội nhẹ hơn. Cuối cùng án đổi sang “dương trình hiệu lực” nghĩa là được phép lập công chuộc tội, đi theo phái đoàn Đào Trí Phú sang “Tây dương” bán hàng nội hóa và mua những sản vật Tây phương như ống dòm, phong vũ biểu, v.v…

Về chuyện ông được cử đi xứ nào mỗi chỗ chép một khác, người thì nói đi Tân-gia-ba, người nói đi In-đô-nê-xia, người nói đi Căm-pu-chia, người nói đi Ba-ta-via v.v… bởi chữ “đi Tây dương” không minh bạch. Thuyết đi Tân-gia-ba có lý hơn cả, dựa vào mấy câu thơ sau đây ông viết bằng chữ Hán, Trúc Khê dịch :

Nhai văn nhá chữ buồn ta,
Con giun còn biết đâu là cao sâu !
Tân-gia từ biệt con tầu,
Mới hay vũ trụ một bầu bao la (11).

Năm 1843, sau khi xuất dương về, ông trở lại Đà Nẵng rồi được phục chức ở bộ Lễ, sau thăng Chủ sự, rồi lại bị sa thải phải quay về Thăng Long sống những ngày rất túng thiếu.

Năm 1847, sau bốn năm bị thải, ông lại được triêu vào Kinh làm trong Hàn-lâm-viện. Hơn một tháng sau phải đi công cán ở Đà Nẵng, rồi trở về sưu tầm, sắp xếp các “văn thơ” cho vua (có chỗ chép các “vần thơ” cho vua vì vua Tự Đức thích làm thơ nên muốn có vần sắp sẵn).

Năm 1850, ông đổi đi làm Giáo thụ ở Quốc Oai (Sơn Tây). Năm 1853 các tỉnh Sơn Tây, Kinh Bắc bị nạn châu chấu cắn lúa, dân đói khổ, nổi loạn. Ông từ chức, lấy cớ nuôi mẹ già rồi liên lạc với các nhóm nghĩa quân, bầu Lê Duy Cự (tức Duy Đồng, tự xưng là cháu bốn đời của Lê Hiển Tông) lên làm Minh chủ, mình làm Quốc sư. Ông khởi nghĩa ở Mỹ Lương, tức Chương Mỹ và Lương Sơn, Bắc Ninh), tiến đánh vùng Hà Nội, Sài Sơn (Sơn Tây) nhưng mấy tháng sau thua trận phải rút về Mỹ Lương. Tháng 11 năm 1854 ông mất.

5- Cái chết của Cao Bá Quát

Về cái chết của ông có nhiều thuyết khác nhau. Một số người tin ông bị bắt, giải về Hà Nội rồi đưa vào giam ở Huế trước khi đem ra chém đầu, Trong thời gian bị giam trong ngục ông làm hai đôi câu đối nổi tiếng :

Một chiếc cùm lim chân có đế,
Ba vòng dây xích bước cỏn vương.

và :

Ba hồi trống giục, đù cha kiếp,
Một nhát gươm đưa, đ.. mẹ đời!

Dựa vào văn phong người ta có thể tin là do ông sáng tác được song theo chính sử nhà Nguyễn, Đại Nam Thực Lục Chính Biên, thì năm 1854 ông bị “suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Vua Tự Đức hạ lệnh bêu đầu ông khắp các tỉnh miền Bắc rồi bổ ra ném xuống sông. Sau Quang được thăng lên Cai đội” (12). Như vậy là ông chết trận chứ không hề bị giam cầm, chết trận không nhục nhã bằng bị giam cầm rồi đưa ra chém. Bộ Thực Lục do các sử thần nhà Nguyễn chép, không có lý do gì dám sửa sự thật để giữ thể diện cho một phản thần nhà Nguyễn. Cho nên, theo tôi, hai đôi câu đối trên là ngụy tạo.

Cũng có thuyết nói ông bị bắt và tự sát trên đường giải về Kinh. Có lẽ người ta đã nhầm ông với anh ông là Bá Đạt khi ấy đang làm Tri huyện Nông Cống (Thanh Hóa), vì em làm phản bị vạ lây, giải về Kinh, giữa đường cắn ngón tay viết bản trần tình rồi tự tử.

Lại có thuyết cho khi bị giải về Hà Nội, có người thương ông đã đem một tử tù giống ông thay thế để ông trốn lên Lạng Sơn làm sư, mấy năm sau mới chết, nhưng không đưa ra bằng chứng (13).

Người ta còn nói ông bị vu hãm vào tội phản nghịch mà chết, chẳng hạn ngồi nói chuyên với Tùng Thiện Vương, ông chê Tổng đốc Sơn Tây Nguyễn Bá Nghi là dốt nên Nghi để tâm thù, biết ông dự một đám chay có cờ bằng giấy, gươm bằng gỗ cũng cứ vu cho ông tội “khởi nghĩa” đóng cũi đem về Hà Nội chém. Thuyết khác nói ông từng làm gia sư cho một viên Tri Huyện chỉ có chân Tú tài nên bị một Chánh tổng khinh, ông giúp viên Tri huyện vu oan cho Chánh tổng tội phản nghịch phải xử tử nên sau bị quả báo v.v…

Ông Quát có thể phê bình chê Bá Nghi nhưng tại sao ông ngồi với Tùng Thiện Vương mà Bá Nghi lại nghe được? Còn chuyện viên Tri huyện thù Chánh tổng thì gia sư Cao, vốn vẫn khinh những người dốt, sao lại có thể giúp Tri huyện dốt mà không đồng tình với viên Chánh tổng?

6- Tâm trạng Cao Bá Quát

a- Chu Thần hay phản thần?

Vì sao Cao Bá Quát trước làm quan với nhà Nguyễn, chọn tên tự là Chu Thần mà sau lai quay ra làm phản chống lại Nguyễn triều ? Phần đông người ta cho vì ông bất mãn với chính thể, có tài mà không được trọng dụng. Sở dĩ ông bị nhiều người ghét bỏ chính là vì cái tinh kiêu ngạo, khinh người khiến cho con đường sĩ hoạn lộ của ông bao phen lận đận mà vẫn không toại chí. Khi giữ chức Giáo thụ ở Quốc oai, gập năm mất mùa, nhân dân nổi loạn ông mới quyết tâm xoay thế cuộc, dứt tình với nhà Nguyễn, phất cờ khởi nghĩa, tố cáo triều đình không phải thời Nghiêu, Thuấn.

Có người đi xa hơn nữa, cho là ông nuôi mộng đế vương (14), dựa vào đôi câu đối ông sáng tác khi ông bị giam trong ngục trước khi bị xử trảm:

Một chiếc cùm lim chân cố đế,
Ba vòng dây xích bước còn vương.

“đế ” và “vương” ở cả dưới chân ông. Song chính sử đã chép ông bị chết trận chứ không bị giam trong ngục, đôi câu đối này rõ ràng là ngụy tạo, thuyết “mộng đế vương” không có cơ sở. Hơn nữa, nếu quả ông nuôi mộng đế vương thì sao không tự mìng xưng làm Minh chủ mà lại suy tôn Lê Duy Cự lên chức ấy, chỉ nhận mình là Quốc sư cho thêm rắc rối? Phải chăng vì ông tự biết mình không đủ uy tín nên phải dựa vào Lê triều?

Thuyết ông bất mãn với thời cuộc hợp lý hơn.

b- Mặc Vân Thi Xã

Thi Xã này do Tùng Thiện Vương Miên Thẩm và Tuy Lý Vương Miên Trinh, con vua Minh Mạng lập ra để cùng các nhà thơ đương thời trong hoàng tộc và các danh sĩ xướng họa.

Tương truyền Cao Bá Quát đã chê thơ của Thi Xã như sau :

Ngán cho cái mũi vô duyên,
Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An.
(thuyền Nghệ An chở nước mắm nên nặng mùi).

Tuy nhiên, không thiếu gì người chép ông là bạn tri kỷ của Tùng Thiện Vương. Đặc biệt khi ông đổi đi làm Giáo thụ Quốc Oai, Tùng Thiện Vương nhờ ông đề Tựa cho tập thơ mới sáng tác, ông đã viết bài Tựa hai trang (15). Xưa nay người ta viết Tựa để khen, dù là khen dè dặt chứ không ai viết để chê. Một mặt Cao chê thơ Thi Xã, mà Tùng Thiện Vương làm Minh chủ, nặng mùi, mặt khác lại khen thơ Vương và làm bạn tri kỷ của Vương, mâu thuẫn là ở chỗ ấy. Sở Cuồng giải thích là trước kia Cao vẫn tỏ ý khinh thị hai anh em Vương nhưng nhờ hai Vương đều trọng tài ông và tính khí độ lượng nên về sau cảm hóa được ông trở thành bạn và gia nhập Thi Xã. Tuy cách giải thích cũng có lý nhưng tôi vẫn thấy bất ổn. Người ta chỉ nói Cao Bá Quát rất mực thông minh và kiêu ngạo không thấy ai nói ông “tiền hậu bất nhất”. Đã chê tất phải thấy thơ không hay, rồi vì cảm tình riêng mà bỗng chốc thơ không hay lại hoá hay thì khó mà tin được. Mấy câu thơ trên chắc cũng là ngụy tạo.

c- “Tử năng thừa phụ nghiệp”

Đây cũng là một thí dụ người ta đưa ra để chứng tỏ tinh ngạo mạn của Cao. Tương truyền một hôm Cao đến chơi, Tùng Thiện Vương đem đôi câu đối mới làm ra khoe :

Tử năng thừa phụ nghiệp (nghiệp cha con nên nối theo)
Thần khả báo quân ân (ơn vua kẻ làm tôi nên báo)

Cao đọc xong chê: “Tối hảo! Tối hảo! Quân thần điên đảo!” (sao con lại đứng trước cha, tôi đứng trước vua?). Vương yêu cầu sửa lại, Cao bèn viết :

Quân ân thần khả báo
Phụ nghiệp tử năng thừa.

Có sách chép đôi câu đối này là của vua Tự Đức, sự thật nó là của người Trung quốc, it nhất đã được kể trong hai cuốn Nhất kiến cáp cáp tiếuHải Nam nhân vật chí (16) Dựa vào Hải Nam nhân vật chí, Sở Bảo viết: “Danh thần đời Minh Khâu Văn Trang khi tám, chín tuổi đi qua cổng một vị quan to về hưu có treo đôi câu đối mới gỗ sơn son thếp vàng. Mỗi lần đi qua Khâu giơ tay đánh lõ tót (?) vào câu đối tỏ ý khinh bỉ. Viên quan già cho đòi vào hỏi lý do, Khâu chê đôi câu đối không hay, con đứng trước cha, tôi đứng trên vua là bất kính. Viên quan hỏi Khâu có biết sửa không, Khâu nói có biết và sửa lại như trên.

Hai chuyện giống nhau như hệt, vậy ai “cóp” ai? Khâu là danh thần đời Minh, Cao là danh nho thời Nguyễn, dĩ nhiên Khâu không thể “cóp” Cao được. Nhưng liệu có phải Cao đã “cóp” Khâu hay không? Khẩu khí của hai câu “Quân ân thần khả báo”, “Phụ nghiệp tử năng thừa” có hợp với tính tình Cao hay không? Một người có tính ngạo mạn, quật cường, đã từng lên án vua Tự Đức không phải Nghiêu, Thuấn, đã phất cờ khởi nghĩa với hai câu thêu trên cờ :

Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu, Thuấn
(ở Bình Dương, Bồ bản đã không có vua hiền như Nghiêu, Thuấn)
Mục Dã, Minh Điều hữu Võ, Thang
(thì ở Mục Dã, Minh Điều tất phải có những người như vua Võ, vua Thang) (17).

có thể nào lại câu nệ “tôn ti trật tự” đến thế trong văn thơ không?

Biết con không ai bằng cha, tương truyền cụ Đồ Cao xem văn hai con đã đánh giá như sau: “Văn Bá Đạt hơn về khuôn phép mà thiếu tài tử, văn Bá Quát hơn về tài tử mà thiếu khuôn phép” (18).

Chính mình từ nhỏ văn đã thiếu khuôn phép lại có thể chê văn người “cương thường điên đảo” được ư? Có thực Cao Bá Quát mâu thuẫn đến bậc ấy không?

Người đời gán ghép hai câu ấy cho ông, tưởng làm tăng giá trị của Cao Bá Quát lên nhưng lại không nghĩ rằng vì thế khiến Cao Bá Quát mang tội “đạo văn”.

Nguyễn Thị Chân Quỳnh
Châtenay-Malabry thàng 1-1991
Giao Điểm số 3, tháng 5-1991
Sửa lại, Hà Nội tháng 12-2008

Đăng lại từ tạp chí Chim Việt Cành Nam (Chimviet.free.fr)

CHÚ THÍCH

1- Thơ văn Cao Bá Quát, tr.9, 342-4.

2- Tuy có thể là Cao cãi bướng nhưng ngày nay y học nhìn nhận ngưới sinh trước là em.

3- Luận Ngữ, tr. 295.

4- Toan Ánh, Nếp cũ, tr. 53.

5- Sở Cuồng nói là của Trung quốc, Cao Bá Quát, Tư liệu, tr. 186.

Nguyễn văn Siêu (1799-1872) hiệu Phương Đình, người huyện Thọ Xương.

Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-1870), con thứ 10 vua Minh Mệnh.

Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820-1897), con thứ 11 vua Minh Mệnh.

6- Lãng Nhân, Giai thoại Làng Nho Toàn tập, tr. 306. chép là thi Hương năm 14 tuổi, Ông sinh năm 1808 + 14 = 1822, nói ông đỗ Cử nhân năm 1822 là không đúng vì ông đỗ khoa 1831.

7- Trúc Khê, tr. 336. chép ông thi Hach đõ Đầu Xứ ở Bắc Ninh, mới hợp lý.

8- Lãng Nhân, sđd tr. 303 –

Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, tr. 252.

9- Kháp phách : Quyển văn của học trò phải rọc phách tức là xé trang đầu cung khai tên tuổi, quê quán v.v… cất đi trước khi giao cho quan trường chấm để tránh chuyện gian lận, chấm xong , xếp thứ tự rồi mới đem cái phách tức tờ cung khai tên tuổi ra ráp vào quyển thi, gọi là kháp phách, để biết tên tác giả quyển thi.

10- Theo Thực Lục, ông làm Sơ khảo trường Thừa Thiên chứ không phải Phúc khảo. Theo lệ, quan trường chấm bằng mực xanh, hồng hay son ta, son Tầu nhg cấm khg được dũng mực đen như học trò nên ông phải hơ son lên đèn cho thành muội đèn mầu đen để sửa hộ bài cho học trò.

11- Trúc Khê, tr. 353- Lãng Nhân, tr. 311.

12- Thực Lục, XXVIII, tr. 85. Thực Lục về Dực Tôn Anh Hoàng Đé,quyển XI, đệ tứ kỷ (1854-58)

13- Sở Cuồng, Cao Bá Quát, Tư liệu, tr. 89.

14- Lê Kim Ngân, Văn Học Việt Nam thế kỷ XIX, tr. 218.

15- Thơ văn Cao Bá Quát, tr. 33.

16- Sở Bảo, “Râu nọ cầm kia”, Trung Bắc Chủ Nhật, số 13, 26-5-1940.

17- Sở Cuồng, Cao Bá Quát, Tư liệu, tr. 88.

Vua Nghiêu đóng đô ở Bình Dương, vua Thuấn đóng đô ở Bồ Bản.

Vua Võ đánh vua Trụ ở Mục Dã, vua Thang diệt vua Trụ ở Minh Điều.

(Kiệt, Trụ là hai ông vua tàn ác, hại dân)

18- Lê Kim Ngân, tr. 186.

SÁCH THAM KHẢO

Cao Bá Quát Toàn Tập, tập I. TP Hồ Chí Minh : Văn Học & Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, 2004.

Cao Bá Quát. Tư liệu – Bài viết từ trước tới nay. TP Hồ Chí Minh : Văn Học & Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, 2004.

Diên Hồng, Từ Điển Thành ngữ, Điển tích, Houston, Texas : Zieleks tái bản, 1981.

Đại Nam Thực Lục Chính Biên. Hà Nội : Sử Học, Khoa Học, KHXH, 1962-1978.

Đặng Thị Hảo, Từ Điển Văn Học, I I, Hà Nội : KHXH, 1984 (Nguyễn Thuyên).

Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Hà Nội : KHXH, 1965 ; Paris : Đông Nam Á tái bản.

Đào Trinh Nhất, “Đức Minh Mệnh quở trách Khâm Thiên Giám”, Trung Bắc Chủ Nhật, số 187, 12-12-1943.

Đoàn Trung Còn dịch , Luận Ngữ. Saigon : Trí Đức Tùng Thư, 1950 (?).

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Hà Nội : Văn Sử Địa, 1957.

Lãng Nhân, Giai Thoại Làng Nho Toàn tập. Saigon : Nam Chi Tùng Thư, 1966 ; tái bản ở Mỹ.

Lê Kim Ngân, Văn học Việt Nam thế kỷ XIX, Phần Cổ văn.

Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ng. Saigon : Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, 1972.

Dịch giả : Tạ Quang Phát.

Nguyễn Huyền Anh, Việt Nam danh nhân từ điển. Houston, Texas : Zieleks, 1981.

Nguyễn Lộc, Từ Điển Văn Học, I, Hà Nội : KHXH, 1983.

Sở Bảo, “Râu nọ cầm kia”, Trung Bắc Chủ Nhật số 13, 26/5/1940.

Toan Ánh, Nếp cũ, Con người Việt Nam. Xuân Thu tái bản ở Mỹ.

Thơ văn Cao Bá Quát. Hà Nội : Văn Học, 1984.

Trần văn giáp chủ biên, Lược truyện các tác gia Việt Nam, I. Hà Nội : Sử Học, 1962.

Trương Hữu Quỳnh, Phan Đại Doãn, Danh nhân lịch sử Việt Nam. Hà Nội : Giáo Dục, 1987.

Tuyển Tập TrúcKhê Ngô văn Triện . Văn Hóa Thông Tin, 2003.

Vũ Ngọc Khánh, Bi kịch nhà vua. Hà Nội : Văn Hóa, 1990.