Từ xưa cho đến nay con người vẫn luôn ca ngợi và tôn sùng lòng dũng cảm. Nếu ngược dòng lịch sử, điểm lại các tác phẩm kinh điển và những ghi chép lịch sử, ta có thể thấy rất nhiều nhân vật: Quan Vũ, Trương Phi, Mã Siêu trong “Tam Quốc Chí”; Lâm Xung, Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm trong “Thuỷ Hử Truyện”; còn trong Tập lục “Thái Bình Quảng Ký” có Triệu Vân “can đảm, gan góc”, có Lã Mông “không vào hang cọp sao bắt được cọp”, có Dương Đại Hiệp “dũng khí hiếm có, chạy như bay”, có Tần Quỳnh “phụng mệnh lên ngựa, vác thương mà tiến”, còn có Tiết Nhân Quý “đánh đâu thắng đó, không gì cản nổi” …

Nhưng trong những nhân vật được ái mộ đó, cái dũng của họ thường không phải là cái dũng của kẻ thất phu, bởi họ đứng trên một nền tảng luân lý và chính nghĩa. Những tiểu thuyết võ hiệp của tác giả Kim Dung, Cổ Long sở dĩ khiến độc giả say mê là bởi các nhà văn đã khắc họa nên những nhân vật anh hùng luôn dũng cảm liều mình bảo vệ chính nghĩa, coi trọng nghĩa khí, dù phải mất đi tính mạng cũng không hối tiếc.

Xoay quanh sự dũng cảm này, có thể kể một câu chuyện về học trò của Khổng Tử là Tử Lộ. Tử Lộ tên thật là Trọng Do, là người nổi tiếng ngay thẳng và dũng cảm. Trong “Luận Ngữ – Công Dã Tràng”, Khổng Tử từng trêu đùa về sự dũng cảm của Tử Lộ.

Khổng Tử nói: “Nếu chủ trương của ta không thể thực hiện được, người có thể cùng ta ngồi trên bè gỗ nhỏ ra biển khơi chỉ có Trọng Do thôi”. Tử Lộ nghe xong lời ấy của Khổng Tử thì vô cùng vui mừng.

Nhưng Khổng Tử cũng nói: “Trọng Do, con dũng cảm hơn ta, nhưng các mặt khác thì thật sự không có mặt nào được cả!”.

Khổng Tử không tán thưởng cái dũng của kẻ thất phu, những người hữu dũng vô mưu, mà luôn tôn sùng người biết kết hợp “trí, nhân, dũng”.

Trong “Luận Ngữ”, Khổng cho rằng: “Quân tử chi đạo hữu tam: nhân giả bất ưu, tri giả bất hoặc, dũng giả bất cụ”, tức là có ba đạo của người quân tử: Người nhân đức luôn lạc quan vui vẻ, hiểu rõ sự đời mà không có ưu phiền, người thông minh và có trí huệ thì không bị mê hoặc hay dụ dỗ, người dũng cảm thì trong tâm không sợ hãi.

Trong tư tưởng của mình, Khổng Tử xem “trí, nhân, dũng” là một thể thống nhất không thể phân tách. Trong ba phẩm chất này thì “nhân” là trung tâm, “trí” là trí nhân (có trí tuệ và nhân nghĩa), “dũng” là hành nhân (có hành động dũng cảm và nhân nghĩa). Vì vậy, “Nhân giả tất hữu dũng, dũng giả bất tất hữu nhân”. Vì lòng dũng cảm chân chính phải được sinh ra từ lòng nhân nghĩa, do đó người có lòng nhân nghĩa chắc chắn sẽ dũng cảm, còn người không ngại xông lên chưa chắc đã có nhân nghĩa. “Dũng” chân chính phải là cái dũng của người nhân nghĩa, là cái dũng của người có mưu trí chứ tuyệt đối không phải là cái dũng của kẻ thất phu.

Về cái dũng của kẻ thất phu và cái dũng của người mưu trí, trong “Luận ngữ – Thuật nhi” có đoạn như sau:

Tử Lộ hỏi: “Nếu bây giờ thầy dẫn ba quân tác chiến, thầy sẽ chọn ai làm trợ thủ?”

Khổng Tử trả lời: “Người tay không mà đánh hổ, chân đất mà qua sông, chết mà không hối tiếc, ta không thể cho đi cùng. Phải là người gặp sự việc mà biết cẩn thận suy nghĩ, giỏi vạch kế hoạch để hoàn thành nhiệm vụ mới có thể đi cùng ta được”.

Khổng Tử không muốn cùng thống lĩnh quân đội với người “tay không đánh hổ, chân đất qua sông, chết không hối tiếc”, vì theo ông, loại người này mặc dù coi thường cái chết nhưng là người “hữu dũng vô mưu”, dễ mắc sai lầm. “Dũng” là một phẩm hạnh, nhưng dũng cảm không phải là ỷ mạnh làm càn, mà là người trí dũng song toàn “gặp việc lớn mà không sợ, giỏi mưu kế mà hoàn thành được việc”.

Khổng Tử làm tướng nước Lỗ, đánh Lai Di mà Tề hầu sợ hãi, đẹp người Phí mà Phí phải thua chạy. Xem hai việc ấy có thể thấy Khổng Tử không phải chỉ dừng ở mức nói ra. Bậc thánh nhân quả là không chỉ chuyên ở văn vậy. Linh Công hỏi Khổng Tử chuyện chiến trận mà ông không trả lời, là sợ gợi lòng ham đánh dẹp. Tử Lộ hỏi Khổng Tử về sức mạnh mà liền ức chế, là muốn cho Tử Lộ có được cái dũng hợp nghĩa Thánh nhân.

Thời Đông Hán, Ban Siêu làm đặc sứ triều Hán đi sứ sang các nước Tây vực. Khi ông đến nước Thiện Thiện, lúc đầu được vua Thiện Thiện đón tiếp rất cung kính, sau đó lại thay đổi thái độ trở nên lạnh nhạt.

Sau khi Ban Siêu biết được nguyên nhân là do đoàn sứ giả của nước Hung Nô tới, liền triệu tập 36 tuỳ tùng đến nói: “Không vào hang cọp, làm sao bắt được cọp con. Kế hoạch của ta là phải ra tay trước để chiếm ưu thế, ban đêm dùng hỏa tấn công, tiêu diệt toàn bộ quân Hung Nô, khiến quân Thiện Thiện phải khiếp sợ, đây là đại công cáo thành”.

Nửa đêm, Ban Siêu thống lĩnh bộ hạ phi ngựa tới trận địa Hung Nô, sau một trận chiến đấu ác liệt, vua Thiện Thiện sợ hãi khấu đầu tạ tội, bày tỏ sự phục tùng nhà Hán, sau này nhất định không dám hai lòng. Ban Siêu bằng sự mưu trí và tài cầm quân của mình đã thu phục được nước Thiện Thiện, đây là lòng dũng cảm.

Lòng dũng cảm không thể hiện ở sức mạnh cơ bắp mà ở đầu não thanh tỉnh. Lòng dũng cảm không phân biệt người già hay trẻ, người truy cầu chân lý, truy cầu chính nghĩa là người dũng cảm. Trong sự nghiệp, người mạnh dạn đứng trước, trong khó khăn không ngừng nỗ lực là người dũng cảm. Trong quá trình trưởng thành, người kiên cường vứt bỏ những dục vọng, quan niệm xấu của bản thân cũng là người dũng cảm.

Nhà văn Cervantes người Tây Ban Nha nói: “Quá nhát gan là hèn nhát, quá lớn mật là lỗ mãng, dũng cảm là thích hợp”. Người mang tâm hư vinh, tâm hiếu kỳ hoặc là tâm tham lam mà mạo hiểm sinh mệnh lao vào nguy hiểm thì không phải người dũng cảm. Dũng cảm hoàn toàn khác với trạng thái bị kích động mà bất chấp tất cả, nó là một phẩm chất ổn định lâu dài của con người, giống như cây tùng cây bách không bị tàn lụi qua mùa đông, bốn mùa đều xanh tốt.

An Hòa

Xem thêm: