Trời có tam bảo là Mặt trời, Mặt trăng và các Vì sao. Đất cũng có tam bảo là Nước, Lửa, Gió. Con người có tam bảo là Tinh, Khí, Thần. Lão Tử cũng có tam bảo là Nhân từ, Cần kiệm, Không dám đứng trước thiên hạ. Tam bảo của trời đất khống chế vạn vật, tam bảo của con người hun đúc tâm hồn, tam bảo của Lão Tử biểu hiện ra trong đối nhân xử thế.

Lão Tử: Ba báu vật vô giá trong cuộc đời
(Hình minh họa: Qua pinterest)

Trong “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử nói: “Ngã hữu tam bảo, trì nhi bảo chi. Nhất viết từ, nhị viết kiệm, tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên. Từ cố năng dũng, kiệm cố năng nghiễm, bất cảm vi thiên hạ tiên, cố năng thành khí trường”. Nghĩa là: Ta có ba báu vật, luôn giữ ở bên mình. Một là “nhân từ”, hai là “cần kiệm”, ba là “không dám đứng trước thiên hạ”. Nhân từ mới có thể dũng, cần kiệm cho nên có thể rộng rãi, không dám đứng trước thiên hạ mới có thể thành tài đức.

Ba báu vật này là nhân sinh quan cơ bản nhất trong đối nhân xử thế của Lão Tử, cũng là một trong những tư tưởng mộc mạc căn bản nhất trong “Đạo Đức Kinh”.

Lấy nhân từ đối đãi người

Lão Tử xếp “Từ” là đứng đầu trong tam bảo. Vậy “Từ” là gì? “Từ” chính là “từ tâm”, “từ tâm” chính là tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái, sự quan tâm và yêu thương.

Trong “Đạo Đức Kinh” Lão Tử giảng: Từ cố năng dũng… Phu từ, dĩ chiến tắc thắng, dĩ thủ tắc cố. Thiên tương cứu chi, dĩ từ vệ chi” tức là: Nhân từ mới có thể dũng cảm, người đàn ông nhân từ chiến có thể thắng, lấy đây là nguyên tắc của mình. Trời sẽ cứu họ, dùng sự nhân từ mà bảo vệ họ.

Đối đãi với người khác bằng lòng nhân từ, thực tâm thiện đãi người khác mới có thể khơi dậy dũng khí trong lòng họ. Ngô Khởi tướng quốc ở Sở dấy binh là một ví dụ điển hình minh chứng cho câu “Từ cố năng dũng” (Nhân từ thì có thể dũng). Ngô Khởi yêu quân như con. Ông sẵn sàng quỳ xuống dùng miệng của mình hút máu và mủ trong vết thương của binh sỹ bị thương. Điều này đã khiến các binh sỹ cảm động sâu sắc, nên họ có thể chiến đấu dũng cảm nơi xa trường, sẵn sàng xả thân vì ông.

“Từ” là mỹ đức cao đẹp được truyền từ đời này qua đời khác của người xưa. Bởi vì có từ tâm nên mới có thể thấu hiểu người khác, mới có thể thông tình đạt lý, mới biết cách dùng người. Trên đời này nếu có một thứ có thể khiến người khác cam tâm tình nguyện đi theo mình và làm lợi cho bản thân mình thì đó chính là đối đãi với họ bằng từ tâm.

Sùng kiệm dưỡng đức

“Kiệm” nghĩa là dù “có” nhưng không dùng cạn kiệt, mà bồi dưỡng, tích lũy, không xa hoa lãng phí. Tư tưởng “sùng kiệm” của Lão Tử là một trong những nền tảng quan trọng trong việc bảo thân dưỡng đức của người xưa.

Vào thời Tam Quốc, Tào Tháo yêu cầu bản thân mình khi sống phải: “Quần áo của ta đều dùng cả 10 năm”. Sau khi chết ông cũng dặn dò người nhà và thuộc hạ rằng: “Khâm liệm bằng thường phục” và “Không tàng trữ bạc vàng, ngọc ngà châu báu”.

Trong “Chu Tử gia huấn”, Chu Bá Lư thời nhà Thanh cũng đề xướng: “Tiêu xài phải cần kiệm, tiếp đãi khách chớ liên miên”.

Trong một bức thư Tăng Quốc Phiên gửi cho người em của mình, ông cũng chỉ ra rằng: “Anh em ta nếu muốn lưu lại chút phúc khí cho đời sau, thì ngoài 2 chữ cần kiệm ra không còn cách nào khác”.  

Về chữ “kiệm”, người xưa có rất nhiều những câu danh ngôn truyền đời, như “Cần cù bù thông minh, tiết kiệm có thể dưỡng đức”, “Mỗi ngày tiết kiệm một sợi dây, trăm ngày có thể bện thừng dắt mũi trâu”. Điều này thể hiện một cách đầy đủ đức hạnh tiết kiệm, giản dị từ xưa tới nay của cổ nhân. “Sùng kiệm dưỡng đức” không chỉ giúp nhân phẩm bản thân người đó thăng hoa, mà còn khiến đắc được lòng người.

Làm người không cần kiệm, xa hoa lãng phí thì vất vả, ngược xuôi cả một đời. Làm quan mà không cần kiệm, thích ăn chơi hưởng thụ lại thường sinh lòng tham lam, vơ vét của dân, bán dân hại nước cuối cùng cũng chỉ là “danh lợi thoảng qua như mây khói”, gia bại thân liệt.

Không dám đứng trước thiên hạ

Trong cuộc sống hiện thực ngày nay, rất nhiều người đều có suy nghĩ “không  muốn đứng sau người khác”. Phàm là những việc có ích thì ai nấy đều liều mình tiến về phía trước, chứ không cam tâm ở lại đằng sau. Nhưng Lão Tử lại đề xuất một phương pháp xử thế ngược lại: “Không dám đứng trước thiên hạ”.

“Không dám đứng trước thiên hạ” là một trí huệ nhân sinh. Từ xưa đến nay, người có đức thường khiêm nhường lui về ở ẩn. “Không dám đứng trước thiên hạ” có vẻ như thoái lùi, nhưng về bản chất “thoái” lại chính là “tiến”. Cho nên mới có đạo lý “Bậc thánh nhân đặt mình phía sau mọi người nên được ở phía trước”.

Nguyên tắc xử thế “không dám đứng trước thiên hạ” xưa nay đều được những danh sỹ nổi tiếng nhiều đời trong lịch sử tôn sùng và truyền bá. Trong cuốn “Phóng Ông gia huấn”, Lục Du, nhà thơ thời Tống cũng nói: “Dù làm quan cao cũng xin được đặt mình ở phía sau”.

Dương Kế Thịnh thời nhà Minh cũng dăn dạy con trai rằng: “Đạo sống hòa hợp với  người khác, trước tiên là phải khiêm nhường, thành thực. Cùng làm việc thì không được ngại khó ngại khổ, cùng ăn uống thì không được tham của ngon vật lạ, cùng đi thì không được chọn đường đẹp. Ngủ chung giường thì đừng chiếm chỗ, thà nhường người chứ không để người phải nhường mình”.

Trong “Tự vi mộ chí lộ”, Trương Đại cũng sùng bái tư tưởng khiêm nhường của Lão Tử như một nguyên tắc xử thế của mình. Ông nói: “Tranh danh đoạt lợi, xin tình nguyện ở phía sau, xem ngắm trò chơi xin nhường cho người xem trước”.

Tư tưởng “không dám đứng trước thiên hạ” của Lão Tử không phải là khiếp sợ không dám tiến lên, mà là tinh thần “khiêm nhường ôn hòa” lùi mà được tiến. Đây là đạo xử thế rất giàu trí huệ. Giống như biển rộng có thể dung nạp trăm sông bởi biển đặt mình nơi đất thấp.

An Hòa

Xem thêm: