Tam quốc diễn nghĩa vốn là một tiểu thuyết lịch sử do La Quán Trung viết vào cuối đời Nguyên, đầu đời Minh, theo lối bảy phần thực, ba phần hư cấu mà thành. Nó vốn không hoàn toàn là lịch sử, nhưng lại được người đời sau tôn sùng, được liệt vào hàng Tứ đại danh tác của Trung Hoa. Đó là bởi vì điều La Quán Trung muốn gửi gắm không nằm ở sự thật lịch sử, mà nằm ở một giá trị phổ quát thâm sâu. Ấy chính là chữ “Nghĩa”. Ngụy, Thục, Ngô chiến tranh qua lại chỉ là nền để diễn cho được hàm ý thâm sâu của chữ “Nghĩa” này mà thôi.

Người ta thường nói “Hoạn nạn kiến nhân tâm”, nghĩa là qua cơn hoạn nạn mới thấy rõ lòng người. Tam Quốc Diễn Nghĩa mô tả chiến tranh loạn lạc, xã hội rối loạn, nhưng chính trong hoàn cảnh ấy mới thể hiện ra nội hàm của chữ “Nghĩa”. Chữ “Nghĩa” mà La Quán Trung muốn bộc lộ ra chủ yếu ở nhà Thục, mà một nhân vật không thể không nói tới là Lưu Bị.

Lại bàn về chữ "Nghĩa" trong Tam Quốc

Trong khi quần hùng hỗn chiến, khi Lưu Bị rất cần một chỗ đứng, Đào Khiêm ba lần nhường Từ Châu, Lưu Bị vẫn nhất quyết không nhận. Sau này Đào Khiêm bệnh nguy kịch, trước khi qua đời đã lấy tay chỉ chỉ vào tim rồi chết – ý nói tâm nguyện ông là xin Lưu Bị tiếp nhận bài ấn Từ Châu. Sau khi an táng Đào Khiêm, quân sỹ Từ Chầu cũng xin Lưu Bị tiếp nhận bài ấn, Lưu Bị vẫn chối từ. Hôm sau, bách tính Từ Châu khóc bái xin Lưu Bị nắm quyền cai quản Từ Châu, Lưu Bị mới tiếp nhận. Cái “Nghĩa” của Lưu Bị thì người bình thường không thể nào làm nổi.

Sau trận chiến Tân Dã, đại quân Tào Tháo tràn khắp núi rừng đồng nội, chia quân làm tám lộ bao vây tấn công Phàn Thành là nơi Lưu Bị đóng quân. Lưu Bị sống chết treo trên một sợi tóc. Tào Tháo khuyên hàng không thành lập tức tấn công ngay trong ngày. Lưu Bị hỏi Khổng Minh kế sách, Khổng Minh nói: “Có thể mau bỏ Phàn Thành đến Tương Dương làm chỗ tạm nghỉ ngơi”.

Lưu Bị nói: “Bách tính đi theo đã lâu, sao có thể nhẫn tâm mà bỏ được?”

Khổng Minh nói: “Có thể sai người thông báo rộng khắp cho bách tính rằng: Người nào nguyện ý đi theo thì cùng đi, người không muốn đi thì ở lại”.

Sau khi thông báo cho bách tính, bách tính hai huyện Tân Dã, Phàn Thành đều đồng thanh hô lớn: “Chúng tôi dù chết cũng nguyện theo Lưu Sứ quân!”

Ngay hôm đó, mọi người khóc lóc và đi. Dìu già dắt trẻ, dẫn theo nam nữ, ùn ùn vượt sông, hai bờ tiếng khóc lóc không dứt. Lưu Bị đứng trên thuyền trông, khóc lớn rằng: “Vì một mình tôi mà bách tính phải chịu đại nạn này, tôi còn sống làm gì!”

Nói rồi bèn nhảy xuống sông mà chết, được tả hữu sống chết can ngăn. Thuyền đến bờ nam, ngoảnh đầu nhìn lại bách tính, vẫn có người chưa qua sông, đang trông sang bờ nam mà khóc. Lưu Bị vội vàng lệnh cho Quan Vân Trường cho thuyền đưa họ sang sông, cho đến khi tất cả mọi người đã qua sông, Lưu Bị mới lên ngựa.

Có câu rằng: “Đại nạn ập đến ai lo thoát thân người ấy.” Giữa lúc sinh tử tồn vong ai có thể một lòng lo lắng bảo vệ bách tính như Lưu Huyền Đức? Hành quân đem theo cả gia đình gồng gánh là việc đại kỵ của nhà binh, trong lòng Lưu Bị chỉ có bách tính, đại nghĩa này cổ kim hiếm có.

Đến ngoài cổng thành Tương Dương, cháu của Lưu Bị là Lưu Tông từ chối mở cổng thành, đồng thời dùng cung tên bắn loạn xuống. Lúc đó trong thành có một người tên là Ngụy Diên vung đao chém chết tướng sỹ giữ cổng thành, rồi mở cổng và thét to: “Lưu Hoàng thúc mau dẫn quân vào thành cùng giết tên giặc bán nước.”

Trương Phi nhảy lên ngựa chuẩn bị vào thì bị Lưu Bị ngăn lại nói: “Chớ kinh động đến bách tính!”

Lúc này quân giữ thanh đang tự hỗn chiến, Lưu Bị nói: “Ta vốn muốn bảo vệ dân, trái lại làm hại dân rồi! Ta không muốn vào Tương Dương!”

Thế là dẫn bách tính nhằm hướng Giang Lăng mà đi.

Binh gia công thành chiếm đất có nội ứng bất ngờ là việc vô cùng may mắn. Trong tình hình phía sau lưng đại quân Tào Tháo rợp trời dậy đất truy sát, Lưu Bị đang cuống quýt chạy tháo thân, mà vẫn vì dân không dám chiếm thành Tương Dương để dung thân, có thể thấy lòng nhân nghĩa của ông như thế nào.

Lưu Bị không chiếm Tương Dương, Tào Tháo vừa vặn tiến quân vào Tương Dương không phải động binh đổ máu. Mười mấy vạn quân dân đồng hành cùng Lưu Bị, xe lớn nhỏ vài nghìn cỗ, gồng gánh cõng gùi nhiều không đếm xuể. Với tình huống như thế này thì mỗi ngày chỉ có thể đi được mười mấy dặm, mà quân Tào Tháo đuổi theo thần tốc. Các tướng của Lưu Bị đều nói: “Chi bằng tạm thời bỏ bách tính lại, đi trước là hơn.”

Lưu Bị khóc và nói: “Người gây dựng đại sự phải lấy con người làm gốc. Hôm nay mọi người quy theo ta, sao lại có thể bỏ được?”

Do đó Lưu Bị không đồng ý. Người đời sau có thơ khen rằng:

Lâm nạn nhân tâm tồn bách tính,
Đăng chu huy lệ động tam quân.
Chí kim bằng điếu Tương Giang khẩu,
Phụ lão do nhiên ức Sứ quân.

Tạm dịch:

Lâm nạn lòng nhân lo bách tính
Lên thuyền rơi lệ cảm ba quân.
Bến nước sông Tương còn thương xót,
Phụ lão như xưa nhớ Sứ quân.

Do quân dân di chuyển chậm chạp, Lưu Bị bị đại quân Tào Tháo truy sát, vợ con đều bị rơi vào tay quân địch. Phu nhân Lưu Bị, Mi phu nhân vì bảo vệ con trai A Đẩu nên đã lao mình xuống giếng khô mà chết. Trương Phi, Triệu Tử Long khổ chiến Đương Dương, thật trung nghĩa biết bao!

Cái nghĩa của Lưu Bị còn thể hiện ở lòng tin sắt đá, không hề mảy may nghi ngờ với những huynh đệ kết nghĩa. Sau khi Lưu Quan Trương bị đại quân Tào Tháo đánh tan tác, trong chiến loạn Lưu Bị chỉ còn lại đơn thân một mình chạy thoát đến Thanh Châu, được Viên Thiệu bảo hộ. Quan Vũ bảo vệ phu nhân Lưu Bị đã rơi vào tay quân Tào. Sau này Tào Tháo và Viên Thiệu nổ ra chiến tranh, Lưu Bị ở trong quân Viên Thiệu lần đầu nhìn thấy Quan Vũ ở trong doanh trại Tào Tháo, niệm đầu tiên trong tâm là: “Tạ ơn Trời Đất, thì ra em ta quả nhiên là ở chỗ Tào Tháo.” Ông không mảy may hoài nghi Quan Vũ thay lòng đổi dạ, việc này thì người phổ thông bình thường không thể nào làm nổi, người thường ai có thể không có nghi tâm?

Cái Nghĩa của Lưu Bị còn ở chỗ Tam cố mao lư mời Gia Cát Lượng. Hai lần đến lều tranh, Lưu Bị đều không gặp được Gia Cát Lượng, bị các chủng loại tâm lý, hoàn cảnh đả kích, nhưng Lưu Bị không hề có chút oán hận nào, luôn nhẫn nại chờ đợi đến mùa xuân, lựa chọn ngày tốt, trai giới ba ngày, tắm gội xông hương, áo quần chỉnh tề rồi lần thứ ba đến lều tranh. Có thể nói dưới ngòi bút của La Quán Trung, lòng chân thành kính trọng người hiền của Lưu Bị có thể sánh với Chu Văn Vương mời Khương Tử Nha.

Khuyết danh
Đăng lại có chỉnh sửa từ Minghui.org

Xem thêm: