Mạn nam sông An Cựu có lăng Vạn Vạn.
Lăng nọ chôn ai? Cớ sao mang tên Vạn Vạn?
Bấy lâu nay, khá đông người – kể cả người Huế
vẫn chưa giải đáp được mấy câu hỏi ấy.

Lăng tẩm các “đế” và “hậu” triều Nguyễn, hầu hết tọa lạc trên vùng núi đồi ngoại thành Huế. Riêng lăng Vạn Vạn lại nằm giữa đồng bằng, vốn là phần đất xứ Cù Bạc, làng An Cựu Tây, tổng An Cựu, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên; nay thuộc thôn Tam Tây, xã Thủy An, thành phố Huế (1). Lăng Vạn Vạn chỉ cách Kỳ Đài hơn 3km về phía đông nam.

Đó là nơi mai táng giai nhân Dương Thị Thục (1868 – 1944), thường được gọi bà Tiên Cung, vợ của vua Đồng Khánh, mẹ ruột của vua Khải Định, bà nội của vua Bảo Đại.

lăng Vạn Vạn
Trụ biểu, bình phong, hồ sen tại lăng Vạn Vạn. (Ảnh: Phanxipăng)

Gốc gác địa danh Vạn Vạn

Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả (NXB Thuận Hóa, Huế, 1995), vua Đồng Khánh có 2 hoàng hậu. Đệ nhất hoàng hậu là Nguyễn Thị Nhàn (1870 – 1935), gốc Thanh Hóa, con gái của Nguyễn Hữu Độ – quan Kinh lược sứ Bắc kỳ. Bà Nhàn thường được gọi là bà Thánh Cung, sinh 2 con trai Nguyễn Phúc Bửu Nguy và Nguyễn Phúc Bửu Nga song mất sớm cả. Lăng bà Thánh Cung được đặt tên Tư Minh lăng, nằm gần Tư lăng (tức lăng Đồng Khánh) ở làng Dương Xuân, Hương Thủy, Thừa Thiên.

Bà Tiên Cung – đệ nhị hoàng hậu của vua Đồng Khánh – chào đời ngày 26 tháng 3 năm Mậu Thìn (18-8-1868) tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, là ái nữ của Quận công Dương Quang Hướng. Năm Bính Tuất 1886, bà được phong Hòa tần. Năm Kỷ Hợi 1899, được phong Tiệp dư. Năm Bính Thìn 1916, được phong Hoàng thái phi. Năm 1924, đời vua Khải Định, bà được phong Khôn nghi Hoàng thái hậu. Năm Quý Dậu 1933, đời vua Bảo Đại, bà được phong Khôn nghi Xương đức Thái hoàng thái hậu.

Bà Tiên Cung sinh 2 con trai. Đầu là Nguyễn Phúc Tuấn tức Bửu Đảo, chào đời năm Ất Dậu 1885 và năm Bính Thìn 1916 lên ngôi vua, lấy niên hiệu Khải Định. Thứ là hoàng tử Nguyễn Phúc Bửu Khát.

lăng Vạn Vạn
Tiên Cung Dương Thị Thục, đệ nhị hoàng hậu của vua Đồng Khánh.

Bà Tiên Cung mất ngày 2 tháng 8 năm Giáp Thân (18-9-1944), thọ 77 tuổi, được dâng tôn thụy “Hựu thiên Tương thánh Khôn nghi Xương đức Khoan hậu Từ hòa Thọ khang Trang túc Thuần hoàng hậu”, vắn tắt thành Hựu thiên Thuần hoàng hậu. Theo thông lệ, tên lăng của “hậu” phải bắt đầu bằng một chữ mang tên lăng của “đế”. Lăng bà Tiên Cung được triều đình gọi Tư Thông lăng (lăng vua Đồng Khánh được gọi là Tư Lăng). Mặc dù tên chính thức như vậy, song đại đa số dân chúng vẫn quen gọi công trình này là lăng Vạn Vạn. Vì sao?

Xưa kia, khoảnh đất tốt được chọn để xây lăng vua thì triều đình bảo “Vạn niên cát cục” hoặc “Vạn niên cát địa”(2). Ấy là xuất xứ địa danh Vạn Niên được dùng chỉ khu vực Khiêm lăng (tức lăng Tự Đức – xem bài: Lăng Tự Đức – Kiến trúc độc đáo bậc nhất dưới triều Nguyễn), gắn liền câu ca dao:

Vạn Niên là Vạn Niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân!

Còn phần đất tốt được chọn để xây lăng cho cha mẹ của vua, triều đình bảo “Vạn vạn niên cát cục” hoặc “Vạn vạn niên cát địa”. Riêng phần đất tốt được chọn để xây lăng cho bà nội của vua, triều đình bảo “Vạn vạn niên đại cát cục” hoặc “Vạn vạn niên đại cát địa”. Ấy là nguyên do khiến dân gian tạo nên địa danh Vạn Vạn.

Lăng bà Tiên Cung, tức Tư Thông lăng, là lăng Vạn Vạn. Xóm ven sông An Cựu dẫn tới lăng này là xóm Vạn Vạn. Mấy quán bán chè nơi xóm ấy được gọi quán chè Vạn Vạn. Hai võ đường Thiếu Lâm Vạn An ở trong xóm ấy thường được gọi lò võ Vạn Vạn.

1945 – 2002

Nguyên nhân nào khiến lăng Vạn Vạn tọa lạc biệt lập chốn đồng bằng, chứ chẳng nằm trong quần thể lăng tẩm vua chúa trên vùng núi đồi phía tây thành Huế?

Một số bô lão ở địa phương nói rằng dựa theo thuyết phong thủy Đông phương cổ truyền, triều đình nhà Nguyễn thời Khải Định thấy địa điểm này phù hợp với truyền ngôn:

Cù Bạc nhất xứ huyệt,
Công hầu đợi đợi bất tuyệt.

Nghĩa: Cù Bạc là xứ có sẵn vị trí mà nếu chọn làm huyệt mộ thì con cháu đời đời xênh xang công hầu khanh tướng.

Từ khi triều Nguyễn cáo chung vào năm Ất Dậu 1945, lăng Vạn Vạn thiếu sự quản lý của cơ quan Nhà nước. Giai đoạn 1953 – 1955, Ủy ban trị sự Nguyễn Phúc tộc (hậu thân của Tôn Nhơn phủ) dưới sự lãnh đạo tinh thần của Đoan Huy Hoàng thái hậu, tức bà Từ Cung, mẹ của vua Bảo Đại, đã vận động chính quyền sở tại cử 4 nhân viên ngành bảo tàng trực tiếp bảo vệ và chăm sóc lăng Vạn Vạn. Nhà riêng của cả 4 nhân viên kia đều ở gần lăng, trong đó có ông Dương Quang Tùng (sinh năm 1931) là cháu gọi bà Tiên Cung bằng cô ruột.

Suốt hai thập niên kế tiếp, 1955 – 1975, lăng Vạn Vạn lại rơi vào tình trạng đã không kẻ đoái, người hoài – ngoại trừ nhóm nhỏ bà con thân thuộc. Chiến cuộc Tết Mậu Thân 1968 khiến lăng hư hỏng nhẹ. Ngay sau đấy, bà Từ Cung kịp thời tiến hành tu sửa tạm một số bộ phận ở lăng bị sứt vỡ vì đạn pháo.

Quần thể di tích vương triều Nguyễn phân bố trên địa bàn Thừa Thiên – Huế đạt mức độ đậm đặc. Do đó, bao năm qua, các dự án tu bổ và phục hồi bước đầu mới tập trung cho những công trình thuộc diện “ưu tiên 1”. Lăng Vạn Vạn buộc phải “nằm ngoài vùng phủ sóng”. Đáng tiếc là sách báo giới thiệu lăng tẩm Huế được ấn hành lâu nay hầu như quên bẵng lăng bà Tiên Cung. Ngay cả phần “Địa danh, di tích – danh thắng” trong bộ Từ điển lịch sử Thừa Thiên – Huế của nhiều soạn giả (NXB Thuận Hóa, Huế, 2000) và cuốn Địa danh thành phố Huế do Trần Thanh Tâm cùng Huỳnh Đình Kết hợp soạn (NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2001), lăng Tư Thông / lăng Vạn Vạn chưa được đưa vào mục từ, trong khi lại đề cập vô số lăng mộ bé nhỏ hơn!

May thay, mãi tới cuối năm 2002, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế bắt đầu để mắt đến lăng Vạn Vạn. Trung tâm ký hợp đồng với ông Võ Văn Cam (74 tuổi) nhằm thực hiện nhiệm vụ: chăm sóc và bảo vệ lăng này. Ông Cam chính là 1 trong 4 nhân viên từng phụ trách lăng Vạn Vạn giai đoạn 1953 – 1955. Cũng cuối năm 2002, trên tạp chí Nghiên Cứu Và Phát Triển của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên – Huế, thạc sĩ Phan Thuận An sơ khởi giới thiệu lăng Vạn Vạn rồi đề xuất ý kiến: “Mặc dù lăng Vạn Vạn lâu nay ít được quan tâm giữ gìn vì những lý do khác nhau, nhưng với những giá trị lịch sử và kiến trúc, nói chung là giá trị văn hóa, di tích này xứng đáng được xếp hạng, bảo tồn và phát huy tác dụng như nhiều lăng tẩm khác của triều Nguyễn ở cố đô Huế”.

Thực trạng hiện nay

So với lăng tẩm các hoàng hậu triều Nguyễn, kể cả Tư Minh lăng của bà Thánh Cung, rõ ràng Tư Thông lăng, tức lăng Vạn Vạn, của bà Tiên Cung đạt quy mô bề thế hơn hẳn. Diện tích đất quan phòng dành cho lăng Vạn Vạn xấp xỉ 6 ha. Riêng nghệ thuật kiến trúc cùng kỹ thuật xây dựng lăng này, Phan Thuận An đánh giá: “Nếu các công trình kiến trúc thời Khải Định với loại vật liệu xây dựng mới là xi măng cốt thép và với hình thức trang trí công phu, tinh xảo, phong phú (đến độ dày đặc, rườm rà) đã để lại trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng, thì lăng Vạn Vạn cũng là một trong những di tích tiêu biểu và cụ thể thuộc giai đoạn lịch sử đó” (tlđd, tr. 36).

Thăm lại lăng Vạn Vạn vào một sáng mát trời, tôi gặp ông Võ Văn Cam đang lom khom quét rác. Ông trỏ chung quanh:

– Hồi mới xây lăng, triều đình cắm loạt trụ cấm nhằm định ranh giới thửa đất quan phòng. Mấy chục năm qua, người ta lấn chiếm dần để xây nhà. Đó, có những nhà gần áp sát cả Bửu thành đó tề!

Phía trước lăng, vút cao đôi trụ biểu uy nghi. Giữa hai trụ biểu có bức bình phong hình cuốn thư. Kế đó là hồ nước hình chữ nhật, rộng non 645m2, thuở trước thả sen, bây giờ toàn bèo lục bình.

Qua ba tầng sân nối tiếp nhau được lát gạch ca rô, khách gặp Huyền cung – hạng mục quan trọng nhất của di tích.

Huyền cung với mặt bằng hình chữ nhật rộng cỡ 400m2, được bao bọc bởi Bửu thành cao 4,5m. Bước qua cổng gọi là Bửu thành môn, khách lại gặp một bình phong cuốn thư. Ngay sau bình phong này có thêm vòng thành thứ hai, cao 3m, có trổ lối vào thạch thất: đó là ngôi mộ bằng đá, chỗ mai táng hoàng hậu họ Dương. Sát trước thạch thất là khối đá được chạm trổ thành hương án dạng sập gụ chân quỳ với những họa tiết trang trí khá kỳ công. Toàn bộ thạch thất được lực lượng nghệ nhân xưa bỏ nhiều tâm sức khắc chạm và đắp tỉa lắm hình tượng sống động: mặt trời, áng mây, hoa sen, chim phượng, đào tiên, mảng cầu (na), xoài, lựu. Loạt motif trang trí cổ điển cũng được khai thác với phong cách tạo hình tỉ mỉ. Nào mai điểu (hoa mai với chim). Nào liễu mã (cây liễu với con ngựa). Nào tiêu tượng (cây chuối với con voi). Nào tùng lộc (cây thông với con nai). Phan Thuận An nhận xét: “Đây là những tác phẩm có giá trị cao về phương diện mỹ thuật, đặc biệt nhất là thuộc lĩnh vực trang trí bằng điêu khắc trên đá. (…) Nhìn chung, những gì được xây dựng và trang trí ở Bửu thành và Huyền cung đều toát lên cái vẻ trang nghiêm nhưng giàu chất nghệ thuật dành cho một người đàn bà quyền quý thuộc vào bậc mẫu nghi thiên hạ” (tlđd, tr. 35 – 36).

lăng Vạn Vạn
Hiện trạng lăng Vạn Vạn. (Ảnh: Phanxipăng)

Tôi xiết bao ngạc nhiên khi nghe ông Võ Văn Cam tâm sự:

– Tui nhận coi ngó, bảo vệ lăng là vì tình cảm và trách nhiệm đối với di tích của tiền nhân. Chứ lương tiền, nào bao lăm. Theo hợp đồng, mỗi tháng tui được trả công chỉ 283.000 đồng!

Mãi đến nay, lăng Vạn Vạn vẫn chưa được đầu tư tôn tạo cũng như nghiên cứu sâu, quảng bá rộng để phục vụ sự nghiệp phát triển du lịch văn hóa. Lạ lùng thay!

Tác giả: Phanxipăng
Theo bài viết cùng tên đăng tại tạp chí Chim Việt Cành Nam (Chimviet.free.fr)

Đã đăng trên các tạp chí:
Tài Hoa Trẻ 264 (21-5-2003)
Kiến Thức Ngày Nay 602 (20-4-2007)

Chú thích:

(1) Từ ngày 15-9-2006, xã Thủy An được tách thành 2 phường An Đông & An Tây. Lăng Vạn Vạn hiện tọa lạc trong địa phận phường An Đông.

(2) Vạn niên cát cục: 萬年吉局. Vạn niên cát địa: 萬年吉地.

Xem thêm: