Cổ nhân vì sao không dễ dàng chia tay, không dễ dàng phản bội, không dùng điều kiện khách quan để thay lòng đổi dạ? Đó là bởi vì với người xưa, hôn nhân là lời hứa, là biểu hiện của sự chân thành và tin tưởng, là khế ước của cả một đời người.

Trong “Kinh Thi” có câu nói nổi tiếng: “Chấp tử chi thủ, dữ tử giai lão”, ý nghĩa là cùng nắm tay nhau cho tới bạc đầu. Câu nói này vẫn luôn được nhiều bạn trẻ yêu thích và nhắc đến, đặc biệt là trong lễ kết hôn, tình cảm còn ngọt ngào, đều có nguyện vọng tốt đẹp như thế. Nhưng người hiện đại ngày nay chỉ tiếp thu ý tứ ngọt ngào lãng mạn của câu chữ, mà ít có người lĩnh hội được hàm ý sâu sắc đằng sau câu nói ấy: cầm tay nhau, cùng nhau từ từ đi tới những năm tháng cuối đời.

Hôn nhân truyền thống: Giữ lời hứa, không thay lòng đổi dạ
(Ảnh: Jessetenorio, Steller.co)

Đây chính là một hành trình của cả cuộc đời! 20 năm, 30 năm, 50 năm, 60 năm, trong những tháng năm dài đằng đẵng ấy hai người sẽ cùng nhau trải qua như thế nào? Vinh hoa, phú quý, nghèo khổ, loạn lạc, ly biệt? Liệu có thể cầm mãi tay nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào, không thay lòng đổi dạ hay không?

Thực ra, trước câu thơ này còn có câu: “Tử sinh khế khoát, dữ tử thành thuyết”, có ý là dù sống chết hay chia xa, xin cùng phát lời thệ nguyện. “Khế” ở đây là “khế” trong “khế ước”, “khoát” là khoát trong “khoát biệt” (chia xa). “Thành thuyết” ở đây chính là “ký kết”. Như vậy ý nghĩa của toàn câu được hiểu là:

“Chúng ta cùng nhau ký kết một khế ước, chỉ khi nào trong hai người chúng ta có một người không còn sống nữa, mới có thể chia tách hai ta mà thôi.”

Như thế, hôn ước với người xưa thực có sức nặng vô cùng lớn. Đó chính là sự phó thác cả cuộc đời, chấp thuận, hứa hẹn cả cuộc đời và có trách nhiệm trong suốt cả cuộc đời.

Tử sinh khiết thoát,
Dữ tử thành thuyết.
Chấp tử chi thủ,
Dữ tử giai lão.

(Kích Cổ, Thi Kinh)

Lúc tử sinh hay khi cách biệt,
Chẳng bỏ nhau lời quyết thệ rồi.
Cầm tay nàng hẹn mấy lời:
“Sống bên nhau mãi đến hồi già nua”.

(Bản dịch của Tạ Quang Phát)

Trong xã hội phương Tây thời cổ, con người cũng rất xem trọng hôn nhân. Trong lễ cưới nơi giáo đường, hai vợ chồng cũng thề nguyện trước Chúa, hứa sẽ quan tâm yêu thương nhau, chung thủy bên nhau không chia lìa. Vô luận là dân tộc nào thì đều xem thệ ước là điều kiện tiên quyết của hôn nhân. Nó bảo đảm tính hợp pháp của hôn nhân và ràng buộc giữa hai người với nhau. Ở phương Tây có Chúa làm chứng, còn ở phương Đông có Trời Đất làm chứng. Bởi thế người phản bội lại hôn nhân thì chính là phản bội thiên mệnh, phá vỡ chữ Tín, và làm trái lương tâm của bản thân.

Thời Bắc Tống có một Nho sinh tên là Lưu Đình Thức, tên tự là Đức Chi, là người Tề Châu. Sau khi thi đậu tiến sĩ, Lưu Đình Thức được phái đến Mật Châu làm thông phán quan, đúng vào thời gian đại văn hào Tô Đông Pha làm quan thứ sử ở vùng này. Tô Đông Pha rất quý trọng nhân phẩm của Lưu Đình Thức.

Trước đây, khi Lưu Đình Thức còn chưa thi đậu tiến sĩ, từng đính hôn với một cô gái ở quê nhà, chỉ là chưa đưa sính lễ thành thân.

Sau khi Lưu Đình Thức thi đậu tiến sĩ và làm quan, được những người nổi tiếng như Tô Đông Pha mến mộ thì tiền đồ được xem là tươi sáng vô cùng. Nhưng lúc này, cô gái ở quê nhà lại lâm trọng bệnh, dẫn đến hai mắt bị mù. Cha mẹ cô gái là nông dân, chỉ làm ruộng, gia cảnh bần hàn, vì thế không còn dám nhắc đến chuyện hôn nhân với nhà họ Lưu nữa.

Trong số bạn bè của Lưu Đình Thức, có người khuyên anh nên vì tiền đồ và hạnh phúc tương lai của mình mà lấy người khác, hoặc nếu muốn giữ hôn ước với nhà đó thì hãy lấy em gái của cô ta.

Lưu Đình Thức trả lời: “Năm đó, ta đính ước với cô ấy là đã hứa giao tình cảm chân thành cho cô ấy rồi. Nay tuy cô ấy bị mù nhưng tấm lòng của cô ấy vẫn tốt. Giờ nếu ta làm trái lại với tâm nguyện trước đây, nghĩa là cái tâm của ta đã bị biến thành xấu xa. Hơn nữa, ai rồi cũng đến tuổi già, khi vợ già hương sắc tàn phai, chúng ta cũng không thể nào bỏ đi lấy cô gái trẻ đẹp được đúng không? Con người cần biết giữ thành tín, không được thay lòng đổi dạ.”

Về sau, hai người họ đã kết hôn như lời hẹn ước. Sau khi kết hôn, Lưu Đình Thức luôn hết lòng chăm sóc người vợ mù lòa của mình. Hai vợ chồng họ sống hòa thuận vui vẻ, tình cảm đằm thắm, sinh hạ và cùng nhau nuôi dưỡng mấy người con.

Sau khi Tô Đông Pha biết sự việc này, trong lòng vô cùng cảm phục Lưu Đình Thức. Ông nói: “Lưu Đình Thức thật là người có tình cảm chân thành, cao thượng!”

Ngày nay, người hiện đại vẫn nhìn nhận về hôn nhân như là chung thân đại sự, đại khái đều xuất phát từ quan niệm về hôn nhân của người xưa. Chỉ khác là lúc ban đầu ai cũng nghĩ vậy, nhưng đến khi có điều gì đó không ưng ý, thì rất nhiều người cũng liền thuận theo hoàn cảnh mà giảm nhẹ tiêu chuẩn của chính mình, thay lòng đổi dạ.

Nói thẳng một chút, người hiện đại không xem trọng hôn ước, có hay không có hôn ước cũng không sao. Không có hôn ước thì hai người vẫn yêu nhau và chung sống cùng nhau, có hôn ước nhưng hai người cảm thấy không hợp thì chia tay. Không ai nợ ai, không cần suy nghĩ về cảm nhận của đối phương, càng không nói đến chuyện con cái, tình cảm khi về già.

Một người không giữ chữ tín với người khác thì người khác cũng sẽ không giữ chữ tín với họ. Một người không biết tôn trọng người khác thì người khác cũng sẽ không tôn trọng họ. Một người chỉ biết đến cảm giác, nhu cầu, sở thích, lợi ích cá nhân làm đầu thì người khác không thể lúc nào cũng đều sẵn lòng thuận theo họ được.

Chúng ta hãy cùng suy ngẫm một chút, liệu rằng người có tấm lòng nhỏ nhen, ích kỷ có thể tìm được một người bạn đời có tấm chân tình hay không? Cái gọi là “chung sống tự do không cần hôn ước” liệu có thể vững bền mãi mãi và đáng tin cậy được chăng? Suy cho cùng, kẻ ngốc thật sự là cổ nhân giữ lời hứa hay chính là những người khoác lên mình lớp áo văn minh hiện đại?

An Hòa