Nguyên tắc lập quốc của Hoa Kỳ tiếp đây có lẽ là điều không tưởng đối với người hiện đại, kể cả người Hoa Kỳ hiện đại. John Adams, Tổng thống thứ Hai, một trong các vị Cha Lập quốc của Hoa Kỳ đã nói: “Hiến pháp của chúng ta chỉ dành cho người có đạo đức VÀ tín ngưỡng. Nó hoàn toàn không thích hợp cho chính quyền của những kiểu người khác.” Khi viết điều này, có lẽ John Adams đã nhìn thấy trước mâu thuẫn lớn lao trong cách diễn giải Hiến pháp Hoa Kỳ ngày nay.

Trong khoản 3 của Sắc lệnh Tây Bắc (Northwest Ordinance) có viết rằng: “Tôn giáo, đạo đức và tri ​​thức là điều kiện tất yếu để thiết lập một chính phủ tốt đẹp và hạnh phúc cho nhân loại…” Tôn giáo trả lời câu hỏi về nguồn gốc con người, mối quan hệ giữa con người và vũ trụ. Đạo đức trả lời câu hỏi đúng sai giữa con người. Tri ​​thức là sự hiểu biết về sự vật và những kinh nghiệm tổng kết của nhân loại. Vì vậy, tôn giáo, đạo đức và tri ​​thức là những điều kiện quan trọng để thiết lập chính phủ.

Những nhà lập quốc Hoa Kỳ đều là tín đồ Kitô giáo, nhưng họ không hề nói rằng Hoa Kỳ được xây dựng trên nền tảng Kitô giáo. John Adams viết: “Chính phủ Hoa Kỳ không hề, trong bất kỳ ý nghĩa nào, được xây dựng trên nền tảng Kitô giáo.” Điều này có phải là mâu thuẫn không? Kỳ thực John Adams muốn nói rằng Hoa Kỳ không độc tôn Kitô giáo. Các nhà lập quốc hiểu rất rõ rằng họ đang xây dựng một miền đất của đạo đức VÀ tín ngưỡng bao dung: tôn giáo cùng chung sống dưới tiền đề của những đặc điểm chung theo nghĩa rộng. Đúng là Hoa Kỳ lập quốc trên nền tảng đạo đức mà Kitô giáo ban tặng, nhưng lại không phải đặt cơ điểm ở Kitô giáo, mà đặt cơ điểm ở giá trị phổ quát là đạo đức VÀ tín ngưỡng.

Hoa Kỳ lập quốc: Hiến pháp chỉ thành lập trên cơ sở đạo đức VÀ tín ngưỡng
Benjamin Franklin, John Adams và Thomas Jefferson đang chỉnh sửa Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ. (Tranh qua Britannica.com)

Nói về tôn giáo, nhiều tôn giáo đã bị lợi dụng để gây ra sự hỗn loạn trên thế giới. Nhưng chưa bao giờ có một cuộc chiến tôn giáo tại Hoa Kỳ và mọi người thuộc mọi giáo phái đều có thể chung sống hòa thuận, kể cả những tôn giáo thường tiềm tại xung đột lớn như Hồi giáo. Điều này thực tế liên quan trực tiếp đến quan điểm của những vị Cha Lập quốc về tôn giáo. Họ tin rằng các tôn giáo khác nhau không phải đến để chia rẽ người dân, và tất cả các tôn giáo đều có thể cùng tồn tại. Vì sao? Bởi vì, những vị cha lập quốc hiểu rất rõ khái niệm định hình tôn giáo.

Nếu đó là một tôn giáo thực sự, các nguyên tắc bạn theo đuổi không thể mâu thuẫn với các nguyên tắc mà các tôn giáo khác theo đuổi. Điều đó có nghĩa là, có những nguyên tắc và đặc điểm chung đằng sau các tôn giáo chân chính, và chúng tương tự nhau.

Hãy gạt bỏ những sự sai biệt và định kiến, thì đằng sau các chính giáo được công nhận trên thế giới, người ta đều tìm thấy những điểm tương đồng. Đặc điểm đầu tiên là sự tồn tại của Đấng Sáng thế, Đấng tối cao, Thượng Đế. Đặc điểm thứ hai là tin rằng Chúa, Thần, Phật quy phạm hành vi đạo đức của con người, cũng từ đó có yêu cầu về đối xử giữa người với người. Đặc điểm thứ ba là mọi hành vi của con người sẽ bị phán xử. Những đặc điểm phổ quát này người sáng suốt sẽ rất dễ nhận biết, chính là tiêu chuẩn rộng, là tôn giáo chính thống trong mắt các vị Cha Lập quốc.

Vì sao John Adams lại viết rằng: “Hiến pháp của chúng ta chỉ dành cho người có đạo đức VÀ tín ngưỡng”? Từ “và” ở đây rất quan trọng. Sau 2 nhiệm kỳ làm Tổng thống Hoa Kỳ, trong bài diễn văn rời khỏi chức vị, George Washington đã nói đại ý rằng: Tôn giáo và đạo đức là trụ cột của hạnh phúc. Những ai kêu gọi yêu nước mà lại phá hủy hai trụ cột này thì chỉ là hão huyền mà thôi. Khuynh hướng cho rằng đạo đức có thể tồn tại mà không có tôn giáo tín ngưỡng là một sai lầm. Những người bạn chân thành của Hoa Kỳ là những ai không tách đạo đức ra khỏi nền tảng của nó là tín ngưỡng. (George Washington’s Farewell Address – 1796)

Thời điểm đó, cuộc cách mạng ở Pháp (1789-1799) đã cho thấy bài học về cái gọi là “lòng yêu nước”, về việc tách đạo đức ra khỏi tín ngưỡng. Nhân danh quốc gia, nhân danh yêu nước, vô số người đã bị giết chết, đây chỉ đơn giản là màn tàn sát ngụy trang. Kỳ thực George Washington muốn nói rằng ở Hoa Kỳ sẽ không có một “cuộc cách mạng Pháp”. Lòng yêu nước được xây dựng trên nền tảng tín ngưỡng mới là lòng yêu nước chân chính. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa Hoa Kỳ và Pháp, là sự khác biệt cơ bản giữa cái nôi của tự do (Hoa Kỳ) và cái nôi của chủ nghĩa cộng sản (cách mạng vô sản Pháp), là sự khác biệt cơ bản giữa “thiên đường của Đấng Tối cao” và “thiên đường trên mặt đất”.

Luật sư người Pháp Alexis de Tocqueville từng nghiên cứu Hoa Kỳ trong nhiều năm đã mong muốn tìm kiếm lý do đằng sau sự phồn vinh của Hoa Kỳ. Ông ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng Hoa Kỳ hoàn toàn khác châu Âu ở một điểm cốt lõi. Mặc dù tôn giáo và tự do cũng được nói đến ở châu Âu vào thời điểm đó, và châu Âu cũng rất tôn sùng tự do, nhưng tự do và tôn giáo ở đây lại đi ngược chiều nhau. Những người càng tự do lại càng thách thức quyền uy của tôn giáo, bạn sẽ không có tự do nếu bạn tôn trọng uy quyền của tôn giáo. Nhà thờ và chính phủ gần như là hai trong một, nhà thờ đại diện cho quyền lực, còn việc theo đuổi tự do đại diện cho sự thách thức đối với nhà thờ. Nhưng tại Hoa Kỳ, Tocqueville phát hiện ra rằng: Chúa ơi, tôn giáo và tự do của người Mỹ có thể hợp thành nhất thể!

Làm thế nào mới có thể hợp thành một? Vào thời điểm đó ở Hoa Kỳ, hầu hết mọi người đều có tín ngưỡng, đức tin và tất cả đều tuân theo sự chỉ dẫn của Chúa. Tuy nhiên, tất cả các tôn giáo ở Hoa Kỳ không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của chính phủ. Bao gồm việc các mục sư ở Hoa Kỳ không làm quan, không có quyền lực trao cho một nhà cầm quyền danh hiệu Hoàng đế Thần thánh như Giáo hoàng của Vatican. Họ là mục sư và họ làm công việc của một mục sư từ đầu chí cuối.

Các mục sư Hoa Kỳ có ảnh hưởng lớn đến trái tim của mọi người và ở khắp mọi nơi. Dù họ không làm quan, nhưng họ đã gián tiếp ổn định các vấn đề chính trị và cộng đồng của Mỹ. Tự do đã cho người Mỹ có không gian để làm bất cứ điều gì họ muốn, trong khi tôn giáo ngăn cản mọi người làm những điều xấu. Do đó, Hoa Kỳ vừa có tự do vừa có tôn giáo, tuy hai mà là một. Tocqueville cảm thấy rằng đây là một sự kết hợp độc đáo, đặc biệt, không thể tìm thấy ở châu Âu. Đức tin đang ổn định chính trị và thiện hóa trái tim của con người.

Tocqueville đã xúc động viết: “Tôi muốn tìm sự vĩ đại và thiên tài của Hoa Kỳ. Trên những bến cảng rộng rãi và dòng sông hùng vĩ của đất nước này, tôi không tìm thấy. Trên những vùng đất màu mỡ và thảo nguyên bất tận, tôi không thấy. Trong các núi mỏ giàu có và nền thương mại khổng lồ của Hoa Kỳ, tôi cũng không tìm thấy. Chỉ đến khi tôi đi đến các nhà thờ ở Hoa Kỳ và chứng kiến những lời giảng đạo rực đầy chính nghĩa, tôi mới hiểu ra sự vĩ đại và thiên tài của nước Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là cái thiện [(good) – đối lập với cái ác (evil)]. Và nếu Hoa Kỳ không còn thiện nữa, thì Hoa Kỳ cũng không còn vĩ đại nữa.”

Bấy giờ lo lắng rằng trong tương lai, chính phủ liên bang sẽ ban hành một đạo luật tôn sùng một tôn giáo nào đó, các vị Cha Lập quốc trong bản sửa đổi Hiến pháp đã yêu cầu chính phủ cần đảm bảo tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí. Một ý nghĩa của tự do tôn giáo là chính phủ liên bang không được can thiệp vào các vấn đề tôn giáo và không được chế định bất kỳ luật nào về tôn giáo. Tất nhiên, điều này đặt nền tảng trên cơ sở tự do và tín ngưỡng là một thể.

Sau này, dưới sự tả hóa của chính phủ Hoa Kỳ và sự diễn giải sai lệch các giá trị lập quốc, người ta yêu cầu: Các biểu tượng tôn giáo không được xuất hiện trong trường công lập, không được có Kinh thánh, không được cầu nguyện, không được thế này thế khác… Sau đó, Tòa án Tối cao ra mặt phán quyết, nói rằng điều này là vì trong hiến pháp nói chúng ta phải tách biệt tôn giáo và chính phủ, và chúng ta không được quản lý các vấn đề tôn giáo. Vì vậy bất kỳ một chính phủ liên bang nào cũng đều không được động vào tôn giáo, không được cho các giáo hội mượn địa điểm, nhấn mạnh cái gọi là “chính quyền và tôn giáo cần phân tách”.

Hậu bối Hoa Kỳ không chỉ tự mình thiết lập một thứ như vậy mà còn đẩy ý tưởng đó đến từng tiểu bang, các trường công lập đều không được liên quan đến tôn giáo, đều không cho phép học sinh thực hiện các hành vi tôn giáo trong trường, thậm chí phát biểu về tôn giáo, dù cho đó là hoạt động ngoài giờ của cá nhân học sinh trong trường.

Trong khi đó, tự do tôn giáo cũng bị lợi dụng triệt để, trở thành điểm để các giáo phái thờ ma quỷ dựa vào mà tồn tại. Thực sự có Satan giáo được đăng ký ở Hoa Kỳ, và thậm chí người của giáo phái này còn có thể đến biểu tình ngay trước Nhà Trắng. Đây có phải là điều mà các vị Cha Lập quốc mong muốn hay không? Chỉ cần ngẫm nghĩ một chút là có thể hiểu được.

Bởi vậy, John Adams mới nói: “Hiến pháp của chúng ta chỉ dành cho người có đạo đức VÀ tín ngưỡng. Nó hoàn toàn không thích hợp cho chính quyền của những kiểu người khác.” Ở một khía cạnh, câu nói này có hàm nghĩa là Hiến pháp Hoa Kỳ có thể bị lợi dụng khi xã hội Hoa Kỳ trượt khỏi nền tảng lập quốc. Một người không có đạo đức VÀ tín ngưỡng sẽ tìm cách diễn giải sai lệch Hiến pháp Hoa Kỳ, chính là như vậy.

Nhiều năm trước, khi phải đối mặt với đế chế cộng sản Liên Xô, trong diễn văn “Đế chế tà ác” nổi tiếng nhất của mình, Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã nhắc lại điều Tocqueville từng nói: “Nếu Hoa Kỳ không còn thiện nữa, thì Hoa Kỳ cũng không còn vĩ đại nữa.” Chính tín và tự do là hai mặt của một thể thống nhất, đây chính là nền tảng cốt lõi trong cái thiện của Hoa Kỳ. Những ai thật sự chú ý đến các giá trị lập quốc của Hoa Kỳ chắc chắn sẽ phải nhớ điều này, và phải nhớ rằng: đạo đức không thể tách rời khỏi nền tảng của nó là tín ngưỡng.

Thiên Cầm

Xem thêm: