Khi Sài Gòn đổi tên, chồng tôi cũng đổi hướng đi. Anh khuyên vợ hồi hương. Không vướng tù cải tạo. Chẳng ai đuổi đi kinh tế mới. Vậy mà chồng tôi vẫn muốn “về vườn”. Anh về để giữ đất ruộng ông bà. Ba má anh muốn vậy!

Nghèo cũng khổ. Có ăn cũng mệt. Ông bà có ăn nên làng xã bắt giam nhốt cả tháng. Trước đó người quen ở xã nầy tới nhà ba má anh ăn nhậu hà rằm. Sau đó họ thành người lạ. Ông bà bị tù chỉ một lý do: không chia cơm xẻ áo cho các “đầy tớ nhân dân”. Anh là dân luật đâu dễ chấp nhận luật rừng nầy. Anh cương quyếr “rũ áo từ quan” về kẻo trắng tay mất đất.

Không biết chồng tôi thành “ngâm sĩ” lúc nào. Hễ tôi ngồi đâu, anh lại gần “rên” nho nhỏ:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, Đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, Hạ… (*)

“Tắm ao!…”, tôi ngắt lời chấm dứt câu. Nhìn anh cụt hứng tiu nghĩu. Tôi hối hận nắm tay anh xiết mạnh như ngầm thông cảm. “Thôi đành xuất giá tòng phu” cho rồi! Tôi tự an ủi mình.

Ngày bước chân xuống thuyền hay qua đò Lộ Mới quê anh, nước mắt tôi chưa thành mưa. Đó mới não lòng. Thà khóc như mưa rồi trời quang đãng. Đằng nầy tôi khóc thầm, khóc âm ỉ trong lòng. Đang sống nơi đầy đủ tiện nghi, phút chốc đi về “Miệt Thứ”. Chưa đặt chân xuống miệt nầy nhưng xã Tân Long có khác là bao! Chạng vạng tối là cơm chiều phải xong. Ăn trễ đốt đèn hao dầu. Dạo đó xăng dầu khan hiếm lạ. Không ai thích ngồi bàn ngồi ghế. Cứ trải chiếu ra sàn gỗ, ngồi bẹp xuống cho khoẻ cặp giò. Vài tháng sau ba chồng cất cho cái chái lợp ngói cạnh sân nhà ông bà. Nhờ vậy tôi mới có được những giây phút riêng tư bên chồng con. Thỉnh thoảng thấy tôi buồn, anh hay đến ôm vai hỏi nhỏ:

– Em có thương anh không?

– Không thương sao về đây!

Vừa buồn vừa dỗi, tôi trả lời cộc lốc. Không còn cúi mặt nói lí nhí “dạ thương!” như thuở ban đầu. Chờ lúc anh xuống nước năn nỉ điều gì, tôi tấn công trả đũa cho bỏ… ghét. Ghét vì bắt mình về quê. Tôi lôi điệp khúc “nghĩ sao nói vậy” theo lối nam kỳ. Không ví von, uốn éo, quanh co khó hiểu “em chả, em chả!” mà không biết “chả” cái gì như các “đỉnh cao trí tuệ” được.

“Con gái mình không đi kinh tế mới là may”, ba má tôi bảo nhau. Chúng tôi có một mặt con rồi mà bà cứ tưởng con mình sắp lên xe hoa. Bà theo nhắc và dặn đủ điều:

– Nhập gia tùy tục nha con! Má chồng con quê mùa, cổ lỗ sĩ. Bà không đi xa khỏi lũy tre làng. Bây liệu hồn ăn nói.

Ba tôi thêm vô:

– Con sống ở thành quen rồi. Giờ đi về quê. Ba má có thương con cũng chịu.

– Đổi đỡi mình đổi hết con ơi! Bây ráng ăn mặc giản dị. Má chồng bây còn bận quần “đáy nem”. Bây liệu hồn đa!

Bà cứ lập đi lập lại “liệu hồn” “coi chừng” khiến tôi mũi lòng.

– Má ơi, con không để ai khinh chê con gái má đâu!

Bà ngó hướng khác. Tôi biết bà sắp khóc. Giọng bà nghèn nghẹn:

– Có con nhỏ không được ngủ trưa dậy trễ nha con! (v.v. và v.v.)

Tôi cố thu nạp vào đầu những lời má dạy…

À à ơi… à… ời!
Bông bần rụng trắng bờ ao,
Lấy chồng xa xứ khó mong ngày về.
Xa xưa em ở dựa kề,
Bên ba mà bên má
Em về Miệt Thứ bỏ sầu cho ai

Mỗi ngày có một chuyến xe đò về Chợ Mới. Chồng tôi đóng gói vô thùng nhờ tài xế quen chở đi trước. Vợ chồng bồng bế con rút lui sau. Lúc nầy công an, tổ trưởng hay dòm ngó những nhà “ngụy quân, ngụy quyền” lắm. Hai tiếng “đi chui” còn nhạy cảm nữa. Họ đánh hơi tài hơn… quân khuyển.

Đò vừa tấp vào bờ. Đi chưa được mấy bước đã thấy lối xóm túa ra mừng:

– Chèn ơi! cậu mợ năm dìa chơi hén?

– Thằng cu giống cha nó quá trèn!

– Mợ năm “chắng” ngộ hết sức hén!

Đám con nít khoái nối đuôi theo sau. Đứa khác mau chân phóng về trước kêu lớn lập công:

– Bà ba ơi cậu mợ năm dìa nè!

Vừa mệt lại đói còn nghe um sùm tiếng “trèn ơi” với “quá trèn”, tôi tỉnh hẳn. Ngộ thiệt, ở Sài Gòn có nghe ai kêu vậy đâu? Hôm đó chính thức chồng tôi đã “khớp con ngựa ngựa ô” nầy để đưa nàng dìa dinh. Anh còn “ngợi” (**) vì kéo thêm được ngựa con bảy tháng tuổi nữa. Dân Sài Gòn về quê ở. Láng giềng thường lui tới thăm hỏi.

Hỏi thăm là chuyện nhỏ. Chuyện lớn muốn quan sát dâu bà Ba Lộc. Họ tò mò xem tôi có biết “mần ăn” gì không. Dĩ nhiên không! Hồi xưa ba tôi cứ nhắc hoài “Học chữ mới khó. Lo học chữ cái đã!” Vì vậy con gái ông chỉ biết học chữ. Muốn học nữ công gia chánh phải học lén. Giờ chạm thực tế đau thương. Ở quê ai cũng khéo bánh trái, nấu ăn. Tôi thì bù trất. Phải tập nấu cơm bằng cà ràng. Tập xuống kinh chà nồi bằng tro trấu. Lại còn học làm rẫy do chồng dạy vợ. Cực quá chỉ làm thợ vịn.

Vạn sự khởi đầu nan. Kiên nhẫn chịu cực cũng xong. Nhưng ai lo con nhỏ khi mình ra rẫy? Từ chồng đến bên chồng đều tất bật ngoài rẫy. Trong xóm đều chuyên nghề thuốc lá. Hết thuốc lại kéo sang rẫy ớt, rẫy cà dĩa, cà dài… Tới mùa nước nổi mới xong việc đồng. Sợ con gái không kham nổi, má tôi giục: “Con mở quán bán tạp hóa đi! Nhà mình có tiệm, lên đây xách đồ về bán lẻ.”

Thế là tổ ấm chúng tôi được ngăn ra góc nhỏ bày tủ kiếng bán hàng. Từ dụng cụ học sinh đến thuốc tây mua sỉ bán lẻ cho xóm. Bà con cần món chi lập tức hôm sau tôi qua Chợ Mới bên kia sông mua về liền. Tôi bán không cần lời nhiều mà cần chất lượng tốt nên khách hàng tin tưởng lần lượt tới ủng hộ. Đám trẻ đi học sáng sớm tới bu trước cửa rất vui mà tôi cũng đỡ buồn. Tiêm tạp hoá cũng không khác quán cà phê là bao. Người mua tới lấy hàng về lại tặng tôi đủ thứ tin tức… cán chó khắp nơi. Hết bị mang tiếng “ăn ở không” nữa rồi. Trái lại tôi thêm bận rộn. Buổi tối là giờ ai nấy rảnh việc, còn tôi phải tiếp bà con lai vãng tới mua hàng. Tuy không la cà trong xóm nhưng nhà ai có chuyện gì tôi đều biết hết. Tôi cũng kiên nhẫn ngồi nghe gọi là “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”.

Nghĩ lại mình còn may mắn hơn vợ các anh học tập cải tạo. Học không biết ngày ra. Sáng bừng mắt dậy các chị bỗng thấy mình có sức mạnh kỳ lạ. Ngày nào là bà Thiếu tá hoặc Trung tá, Đại tá oai vệ, phút chốc thành bạn hàng đi buôn chuyến từ Sài Gòn ra Trung hoặc xuôi ngược lục tỉnh. Còn không thì ngồi lề đường nhóm chợ trời. Đồ đạc trong nhà còn thứ gì lôi ra bán “tuốt tuồn tuột”. Các chị cần tiền mua lương thực nuôi chồng… ăn học.

– Bán hai khía đường cát chị năm!

– Mua ít vậy?

– Mua cho ổng uống cà phê mà.

Đường đã trao mà tiền không rời túi.

– Cho thiếu mai chả (trả) nghen!

Họ nói tỉnh queo chẳng cần dài dòng văn tự. Tôi nghe câu khất nầy như nghe… nhật tụng thường xuyên, riết cũng quen tai. Số ít thôi nhưng cũng tùy người. Ở quê là vậy. Thật sự bà con không ăn quỵt. Mùa màng thu hoạch có tiền vô họ ăn nhậu tối đa. Tiền bạc thanh toán sòng phẳng. Rất chịu chơi bỏ những lúc chơi chịu. Dân miền Nam mà. Bạn hàng mua bán lẻ xài đơn vị tính theo mấy ngấn hay từng khía gạch lớn nhỏ trên cân: Một trăm gam họ kêu hai khía. Dân quê đã nói đớt còn bắt họ uốn lưỡi theo từ ngoại “gờ ram” tội nghiêp bà con tui.

Qua 5 năm chia ngọt sẻ bùi cùng chồng ở miệt vườn. Tôi hòa mình lúc nào không hay. Về thăm ông bà ngoại hai đứa nhỏ, tôi mang theo “tiếng tây” lên Sài Gòn mà không hay. Má tôi để ý. Bà giả bộ “đớt” theo:

– Trèn đét ơi, con Thanh học ăn, học nói, học gói, học mở giỏi quá trèn hén!

Tôi không mắc cỡ. Còn hãnh diện và mang ơn người miền Tây hơn nữa. Nhờ vựa lúa sông Tiền sông Hậu phì nhiêu, trù phú nên đồng bào tôi sống tạm qua ngày. Hẳn nhiên có ba má và các em tôi đang bị khốn khổ vì … được giải phóng. Dân quê hiền lành mộc mạc. Bụng dạ ngay thẳng. Chỉ có tôi mới cù lần nhà quê. Làng nầy trọng đạo Phật. Ở đây còn lấy tôn chỉ thờ kính cửu huyền thất tổ và tôn trọng trời đất. Nhà nào cũng có bàn thiên trước sân. Họ không dám kêu trời réo đất. Vua chúa còn cấm kỵ việc kêu tên sao mình cứ “trời ơi đất hỡi” hoài vậy? Hãy để yên ông trời!

Xa xứ mấy chục năm, lúc quay về thăm nhà tôi quên bẵng tiếng “trèn”. Có dịp ghé thăm nhà thuốc nam. Nói chuyện say mê bằng tiếng Việt với bà thầy hốt thuốc. Tôi lại kêu trời theo thói quen ở xứ người. Mở miệng sắp nói là tiếng “trời” đi trước. Dứt chuyện là tiếng “trời” theo sau. “Trời ơi, sao nóng quá vậy trời!” v.v..

Bà thầy phải ngừng tay nhắc “mợ năm đừng kêu trời hoài không nên”. Tôi giựt mình ngước lên bàn thờ rồi vội chấp tay xá.

Chiều xuống tôi lần ra con kinh trước nhà. Nhìn đám lục bình trôi bập bềnh theo con nước lên. Xa xa có bầy chim đang vội bay về tổ. Bất giác tôi ngậm ngùi “Mới đó đã bốn mươi hai năm!”

Thanh Thản Nhiên
Đăng lại từ bài viết cùng tên
Đăng trên tạp chí Thất Sơn Châu Đốc (thatsonchaudoc.com)

(*) Thơ của thi hào Nguyễn Bỉnh Khiêm.
(**) Ngợi ý nói có lời, được lợi.

Xem thêm: