Cổ nhân dạy rằng: “Người mà không học lễ thì không thể đứng vững được trong cuộc đời!” Cho nên, mỗi một người ngay từ nhỏ phải được giáo dục lễ nghi, đạo đức trước tiên thì lớn lên mới trở thành người có giáo dưỡng, có tài có đức. 

Một cảnh cúi đầu hành lễ của người Hàn Quốc (Ảnh: Qua Newsis)
Một cảnh cúi đầu hành lễ của người Hàn Quốc (Ảnh: Qua Newsis)

Thời cổ xưa, Trung Hoa được xưng là “Lễ nghi chi bang” (Đất nước của lễ nghi), bởi trong mọi mặt đời sống xã hội của họ, từ cách căn, cách nói, cách ngồi, cách đi, đứng, chào hỏi…đều phải tuân theo những phép tắc, lễ nghi cơ bản. Thuận theo thời gian, nền văn hóa coi trọng đạo đức, lễ nghi ấy được truyền bá đến một số nước một cách sâu sắc như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản…

Người hiểu Lễ nghi không chỉ thể hiện ra ở ngôn hành cử chỉ, mà còn phản ánh ra lòng tôn trọng người khác, khiêm tốn cung kính đối với mọi người, là mỹ đức truyền thống của con người không kể địa vị cao thấp hay sang hèn.

Người trí thức xưa rất được kính trọng, được xếp là người đứng đầu trong bốn kiểu người “Sĩ, nông, công, thương”. Bởi họ là những người có học, đại biểu cho những người có học vấn rộng và đạo đức cao đẹp, hơn nữa họ càng là những người am hiểu lễ nghi và phép tắc xã hội.

Lễ nghi trong lời nói

(Hình minh họa)
(Hình minh họa)

Ngôn từ là phương tiện giao tiếp chủ yếu nhất của con người trong đời sống hàng ngày. Lời nói ra không chỉ thể hiện trí tuệ, sự hiểu biết mà còn thể hiện phẩm chất đạo đức của một người là cao hay thấp. Vì vậy, người xưa rất coi trọng việc giáo dục lễ nghi trong cách nói chuyện ở những hoàn cảnh khác nhau. Nhưng điểm chung nhất vẫn là khi nói chuyện phải thể hiện được lòng tôn kính, khiêm tốn của người nói đối với người nghe.

Ví như, trong lần đầu gặp mặt, người ta sẽ dùng cách nói: “Ngưỡng mộ đã lâu nhưng nay mới được gặp ngài!” Lâu ngày mới gặp lại, người ta dùng cách nói: “Đã lâu không được gặp!”

Nếu gặp một người nào đó nhưng chưa nhận rõ được là ai, người ta dùng cách nói: “Xin thứ lỗi, trí nhớ của tôi tồi quá!”.

Nếu làm một việc nào đó không đúng, cảm thấy áy náy với người đó thì dùng cách nói: “Thật là thất lễ!” Khi muốn hướng đến một người nào đó để xin góp ý, người ta dùng cách nói: “Xin chỉ giáo!” Nếu làm việc sai, mong được người khác tha thứ, dùng cách nói: “Mong được thông cảm, bỏ quá cho!” Muốn xin sự giúp đỡ của người khác, làm phiền người khác, dùng từ “Xin cảm phiền!”

Trong trường hợp không biết nói như vậy có thích hợp không, người ta dùng từ “Xin mạo muội!” Khi khen lời giải thích, cách nhìn, nhận xét của người khác, dùng từ: “Cao kiến!” Khi đưa ra ý kiến của bản thân thì khiêm tốn, dùng từ: “Thiển kiến!” Khi thể hiện kỹ năng của bản thân, người ta dùng từ: “Kém cỏi, vụng về!” Khi được người khác khen ngợi, dùng từ: “Quá khen!”

Khi chúc mừng người khác, chân thành nói lời “Chúc mừng!” Khi nhận được lời chúc mừng từ người khác, nói lời: “Chung vui!” để thể hiện sự hòa hợp, tương thân tương ái. Khi mời người khác đảm nhận chức vụ, dùng từ: “Chịu thiệt!” để tôn kính người.

Khi thăm hỏi người khác phải kính cẩn nói lời hỏi thăm. Khi khách đến chơi nhà, dùng cách nói: “Hạ cố đến chơi nhà!” hay “Khách quý!” Khi khách đến chơi nhà nhưng tiếp đãi chưa được chu toàn, dùng từ: “Chậm trễ!” hay “Thất lễ!”

Nếu trên đường gặp khách nhưng cần đi trước, dùng từ: “Xin lỗi không tiếp chuyện ngài được!” Khi tiễn khách, nói lời: “Đi thong thả!” Khi nói lời tạm biệt khách, nói: “Lần sau lại nhà!” Khi người khác rời đi, dùng từ: “Hẹn gặp lại!” Người khách khi không cần người chủ tiễn, dùng cách nói: “Xin dừng bước!” Khi người khác tặng lễ vật nhưng khước từ, không nhận dùng cách nói: “Xin nhận tấm lòng!” Đây là lời khước từ nhã nhặn để miễn nhận một tặng phẩm hoặc một buổi chiêu đãi, đồng thời tỏ ý cảm ơn.

Nói chung, ở vào những hoàn cảnh cụ thể khác nhau người ta sẽ dùng những lời nói khác nhau sao cho phù hợp. Nhưng luôn thể hiện ra được ý tứ “hạ mình” và “tôn người”.

Lễ nghi trong chào hỏi

Một cảnh chào hỏi của người Nhật Bản
Một cảnh chào hỏi của người Nhật Bản

Người xưa mỗi khi gặp nhau đều hành lễ “cúi đầu”, để bày tỏ sự tôn trọng và cung kính của bản thân. Đây được coi là một nét văn hóa truyền thống tốt đẹp, giúp con người sống chuẩn mực, biết “kính trên, nhường dưới” và phù hợp với đạo lý làm người.

Khom lưng, cúi đầu hành lễ là một loại hình thức lễ tiết lâu đời nhất của con người. Loại lễ tiết này ra đời vào thời nhà Thương, Trung Hoa với ý nghĩa chủ yếu là để thể hiện sự cung kính và nhún nhường trước người khác. Khi hai người gặp nhau sẽ dùng hình thức “khom lưng, cúi người” để diễn tả và bày tỏ sự tôn kính của bản thân với đối phương.

Cuốn “Nghi lễ. Sính lễ” thời Xuân Thu Chiến Quốc có ghi chép lại rằng, vào thời ấy, mọi người khi tham gia tất cả các loại lễ mừng đều phải cử hành nghi lễ “cúi đầu”. Đến đời nhà Đường thì “cúi đầu” đã trở thành một lễ tiết phổ biến, ai ai cũng biết và đều hành lễ. Từ trẻ em đến người lớn tuổi đều hiểu rõ ý nghĩa và nghi thức của việc “khom lưng, cúi đầu”.

Nghi lễ “khom lưng cúi đầu” không chỉ được áp dụng trong những nghi thức trang trọng và nghiêm túc hay những lễ mừng lớn mà còn được sử dụng trong các hoạt động xã giao thông thường.

Lễ “cúi đầu” được chia làm hai loại: Một là “cúi ba cái” tức là trước khi cúi chào phải ngả mũ hoặc tháo khăn quàng cổ xuống, thân thể đứng thẳng trang nghiêm, mắt nhìn thẳng sau đó phần lưng ngả về phía trước khoảng 90 độ. Đó được tính là 1 lần, sau 1 lần lại đưa thân thể về tư thế ban đầu và tiếp tục làm lần 2, lần 3.

Còn một loại khác là “cúi người bái thật sâu” (thân người cúi về phía trước khoảng 15 -90 độ). Hình thức này được áp dụng trong tất cả các mối quan hệ xã giao, hoạt động thương mại…Lần đầu tiên gặp bạn, gặp đồng môn, gặp khách hàng, cấp trên, cấp dưới, gặp người lớn tuổi …đều dùng hình thức này để bày tỏ lòng tôn kính, tôn trọng đối phương.

Khi hành lễ “cúi đầu”, hai tay có thể đặt ở phần đầu gối hoặc đặt ở hai bên thân thể. Sau khi hành lễ xong, đưa thân thể về tư thế ban đầu và hướng mắt về phía đối phương. Đồng thời, lúc hành lễ, động tác không được quá nhanh, phải đoan trang, nghiêm túc, thể hiện sự tôn trọng đối phương.

Ngày nay, việc hành lễ “cúi đầu” vẫn được lưu truyền rộng rãi tại các nước phương đông. Đặc biệt tại Nhật Bản và Hàn Quốc, người dân đều được giáo dục phép tắc này ngay từ nhỏ trong các trường học.

Cổ nhân đánh giá rất cao một người hiểu lễ tiết. Bởi họ cho rằng, người có thể hành được lễ tiết phải là người có đạo đức thực sự cao ước thúc và chỉ đạo trong tâm. Nếu trong tâm không có sự tôn kính thì sẽ rất khó để thực hành được lễ nghi, thậm chí thực hành được cũng sẽ thể hiện ra sự hời hợt, lấy lệ.

Đến ngày nay, trong các giao tiếp xã hội, đặc biệt trong các buổi tiếp đãi, nghi thức càng long trọng thì lễ nghi càng được đề cao và coi trọng. Trong cuộc sống của người hiện đại, nói đến lễ nghi, một số người trẻ tuổi sẽ cho là “rườm rà” nhưng kỳ thực, những người càng hiểu biết, càng trí tuệ, càng lớn tuổi sẽ càng đề cao nét văn hóa truyền thống tốt đẹp này.

An Hòa

Xem thêm: