Lễ tiết được xem là trật tự của tự nhiên, của Trời Đất và cũng là quy tắc giữa người với người trong cuộc sống. Thời cổ đại, người ta dùng “lễ” để “hạ mình, tôn người”, để biểu đạt lòng chân thành và cung kính của mình đối với người khác.

Khổng Tử dạy: “Bất học lễ, vô dĩ lập”, ý nói không học lễ thì sao có thể đứng vững (tồn tại, vững vàng) được? Điều này chứng tỏ người xưa vô cùng coi trọng việc học lễ và hành lễ.

Đối nhân xử thế của người xưa - Kỳ 5: Dùng "Lễ" để biểu thị lòng tôn kính
Người xưa gặp nhau là hành lễ cúi đầu chào (Hình minh họa)

Vậy “Lễ” được hiểu như thế nào?

Trong “Lễ ký. Khúc lễ thượng” viết rằng: “Lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị, minh thị phi dã.”, ý nói nên tác dụng của “Lễ”. Dựa vào “Lễ” để xác định mối quan hệ giữa người với người là gần hay xa, thân hay không, để phân biệt địa vị cao thấp. “Lễ” cũng là lý lẽ dùng để nhận định những điều khó phân rõ, làm rõ phải trái, đúng sai.

Lễ là chuẩn mực của xã hội, là cái gốc của việc con người hành đạo “nhân” (nhân từ). Trong “Lễ ký. Khúc lễ thượng” viết: “Đạo đức nhân nghĩa, phi lễ bất thành; giáo huấn chính tục, phi lễ bất bị; phân tranh biện tụng, phi lễ bất quyết; quân thần , thượng hạ, phụ tử ,huynh đệ, phi lễ bất định; hoạn học sự sư, phi lễ bất thân; ban triều , trị quân, lỵ quan, hành pháp, phi lễ uy nghiêm bất hành; đảo từ, tế tự, cung cấp quỷ thần, phi lễ bất thành, bất trang thị dĩ quân tử cung kính tổn tiết, thoái nhượng dĩ minh lễ.” Ý nói rằng: Đạo đức nhân nghĩa, không có lễ không thành; dạy bảo sửa đổi phong tục, không có lễ không đủ; xử việc phân tranh kiện tụng, không có lễ không quyết được; vua tôi, trên dưới, cha con, anh em, không có lễ không phân định được; học làm quan, thờ thầy, không có lễ không thân; xếp đặt vị thứ trong triều, cai trị quân lính, đi làm quan, thi hành pháp lệnh, không có lễ sẽ không uy nghiêm; cầu khẩn, tế tự, cúng tế quỷ thần, không có lễ không thành kính, không trang trọng. Bởi thế cho nên người quân tử dung mạo phải cung, trong bụng phải kính, giữ gìn pháp độ, thoái nhượng để làm sáng rõ lễ.

Lễ khiến cho hành vi của người ta hợp với đạo. Trong “Luận Ngữ” viết: “ Cung nhi vô lễ tắc lao; thận nhi vô lễ tắc tỷ; dũng nhi vô lễ tắc loạn; trực nhi vô lễ tắc giảo”, tức cung kính mà không có lễ thì phiền, cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ hãi, dũng mà không có lễ thì loạn, trực mà không có lễ thành ra vội vã.

Chữ Lễ trong tiếng Hán còn mang ý nghĩa là hành lễ. Trong “Thích Danh” cũng viết: “Lễ, thể dã”, ý nói “Lễ” cũng là thân thể, trong một số sự tình nó còn có ý nghĩa là “sự thể, sự tình”. Điều này muốn nói rằng, “Lễ” là cần phải thông qua tứ chi thân thể để biểu đạt, bày tỏ. “Lễ nghi” của người cổ đại đúng là như thế.

“Lễ” thể hiện lòng tôn kính 

Đối nhân xử thế của người xưa - Kỳ 5: Dùng "Lễ" để biểu thị lòng tôn kính
(Hình minh họa)

Trong cuốn: “Hoằng đạo lục. Quân thần chi lễ” có ghi chép: “Lễ mạc đại vu kính. Nghiêu thuấn kế thiên lập cực, sử thần kê cổ chính từ viết khâm, nãi sở dĩ phụng vu thiên; viết cung, nãi sở dĩ mậu vu kỷ; viết nhượng, nãi sở dĩ gia vu nhân. Kì thật bất việt hồ kính chi nhất tự nhi dĩ.” ý nói, điều lớn lao nhất của “Lễ” là thể hiện lòng tôn kính. Vua Nghiêu, vua Thuấn kế thừa Thiên mệnh mà làm Hoàng đế. Sử quan quan sát tỉ mỉ, ghi chép một cách kính cẩn nghiêm minh cho nên mới có thể hầu hạ Thượng thiên. Bởi vì cung kính có lễ mà khiến bản thân trở nên vĩ đại. Bởi vì nhún nhường, tài đức cho nên mới có thể ban phát ân huệ cho người. Kỳ thực, hết thảy đều không có gì vượt qua một chữ “kính”.

Điều này nói rõ một vấn đề rằng, cổ nhân đối với lễ không chỉ là những lễ nghi trên thân thể mà đồng thời trong tâm còn phải có kính ý, tấm lòng tôn kính.

Trong “Khúc lễ” viết: “Vô bất kính, nghiễm nhược tư, an định từ, an dân tai!” một người phải luôn giữ thái độ kính cẩn với mọi điều, nhu mềm nhưng trang nghiêm, dứt khoát, lời nói ôn tồn nhưng chứng lý vững chắc và hướng mọi điều, mọi người, mọi việc theo đúng Lễ.

Trong “Khúc lễ” cũng viết: Một người có địa vị thì thời thời khắc khắc trong tâm phải có Lễ. Bên ngoài phải đoan trang, lễ độ giống như có một vẻ đăm chiêu suy nghĩ, thái độ nói chuyện phải hòa ái ổn định. Làm được ba điểm này mới khiến bản thân và người khác an định.

Hành lễ không phải chỉ là quy tắc bắt buộc của người dưới đối với người trên

Trong “Hoằng đạo lục. Quân thần chi lễ” viết: “Thượng cổ chi thì, quân kính nhi thần dương, quân dong nhi thần tái, quân bái nhi thần kê thủ, thử hà đẳng khí tượng dã”. Ý nói, thời thượng cổ, Quân vương cường đại, thần dân ca ngợi. Quân vương có công lao, thần dân ghi nhớ. Quân vương lễ bái, thần dân rập đầu lạy.

Thời trước nhà Tần, Vua để tỏ lòng tôn kính đối với đại thần thì thường thường xưng tên mà không xưng danh. Người ngồi trên chiếu nếu bày tỏ lòng tôn kính của mình với người đối phương ngồi cùng thì sẽ nhấc mông lên chút, tách khỏi hai chân, ngồi thẳng thân người lên. Ngoài lễ nghi quỳ lạy ra, còn có một số lễ tiết thể hiện lóng kính trọng giữa quân và thần, như đi xuống dưới bậc thềm để đón chào…

Lễ tiết quân thần thời cổ đại không chỉ là bề tôi thi hành lễ đối với Vua mà còn có cả Vua hướng đến bề tôi hành lễ. Trong cuốn ” Thư” của học giả Cố Viêm Võ, đời nhà Thanh viết: “Xưng thái giáp kê thủ vu y duẫn, thành vương kê thủ vu chu công thị dã.” Ý nói, Thái Giáp cúi đầu lạy Y Doãn, Thành Vương cũng cúi đầu lạy Chu Công. (Thái Giáp là Vua thứ tư của nhà Thương, Y Doãn là tướng nhà Thương. Thành Vương là Vua thứ hai của nhà Chu là tể tướng nhà Chu). Hành lễ không phải chỉ là quy tắc bắt buộc của người bên dưới đối với người bề trên mà còn là của người bề trên đối với người bên dưới.

Thời cổ, người ta coi việc học Lễ là việc quan trọng hàng đầu của học làm người. Dưới đây xin trích dẫn câu chuyện về Khổng Tử dạy con học “Thi” và học “Lễ”.

Khổng Tử dạy con học “Thi” và “Lễ”

Đối nhân xử thế của người xưa - Kỳ 5: Dùng "Lễ" để biểu thị lòng tôn kính
(Hình minh họa)

Khổng Tử là nhà tư tưởng và giáo dục thời Xuân Thu, tương truyền ông có 3000 học trò. Trong sách “Luận ngữ – Quý thị” ghi lại câu chuyện:

Một hôm, học trò của Khổng tử, tên Trần Kháng, hỏi con trai Khổng Lý của ông rằng: “Anh ở cùng thầy có nghe được lời dạy bảo nào mà không giống với người khác không?”

Khổng Lý nói: “Không có. Có lần cha tôi một mình đứng trong sân nhà, tôi bước nhanh qua, cha tôi hỏi: ‘Học Thi chưa?’. Tôi trả lời: ‘Dạ chưa’. Cha tôi nói: ‘Không học Thi, thì không thể ăn nói được’. Thế là tôi liền đi học Thi. Lại có lần, gặp cha, tôi bước nhanh qua, cha hỏi: ‘Học Lễ chưa?’. Tôi trả lời: ‘Dạ chưa’. Cha tôi nói: ‘Không học Lễ, không thể đứng vững được’. Thế là tôi lập tức đi học Lễ. Tôi chỉ nghe được 2 việc ấy thôi”.

Trần Kháng vui vẻ nói: “Tôi hỏi một câu hỏi, lại hiểu ra được 3 điều. Biết được đạo lý học Thi và học Lễ, còn biết được là người quân tử đối xử với con trai mình không khác gì những đứa trẻ khác”.

Thực sự, Thi và Lễ là nội dung trọng yếu mà Khổng Tử giáo dục học trò. Khổng Tử cho rằng dùng hình thức văn nghệ để giáo dục thường có hiệu quả cao hơn lối dạy bảo thông thường. Tương truyền “Kinh Thi” có 305 bài đều là ông tự mình biên soạn, nội dung nhiều, quan hệ với đạo lý tu thân, hiểu mệnh, đi theo đạo nghĩa. Khổng Tử cho rằng tu dưỡng đạo đức con người là bắt đầu từ đây, có thể nâng cao năng lực quan sát của con người, ngoài ra thông qua việc đọc Kinh Thi sẽ học được rất nhiều tri thức lịch sử, tự nhiên và xã hội.

Khổng Tử nói: “Hưng thịnh nhờ Thi, đứng vững nhờ Lễ, thành tựu nhờ Nhạc”. Ông cho rằng Lễ chính là quy phạm hành vi lễ nghi và đạo đức của xã hội, bắt đầu từ học Lễ, giáo dục học trò xây dựng đức hạnh cho bản thân, từ thực tiễn dần dần bồi dưỡng ra những học trò có ý thức đạo đức tự giác, trở thành những trụ cột của xã hội sau này bằng tài đức tế thế an dân và thông hiểu Đạo Trời.

An Hòa

Xem thêm: