Biểu hiện cao quí nhất của nhà Nguyễn là Cửu Đỉnh tức là chín cái đỉnh đồng không nắp tích tụ linh khí. Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng cho đúc năm 1835 và khánh thành năm 1837, đặt trước Hiển Lâm Các, đối diện với Thế Miếu. Trên bầu đỉnh, 162 tấm họa tiết được chạm nổi tinh xảo, mô tả bức tranh toàn cảnh đất nước với núi cao biển cả, sông ngòi, sản vật, v.v. và bên trong đó có cả thuyền chiến Mông Đồng.

Đôi nét về thuyền chiến Mông Đồng
Thuyền chiến Mông Đồng trên Chương Đỉnh. (Ảnh qua Wikipedia)

Mông Đồng là một loại thuyền trận, thuyền chiến có nhiều tay chèo. Thuyền Mông Đồng được phát minh tại Trung Hoa. Các tài liệu ghi nhận mông đồng đã được chế tạo và sử dụng từ thế kỷ thứ 2, thứ 3 sau CN. Nhưng cho tới tận trước đời Đường, không ai biết được hình dáng và kích thước của nó ra sao. Trước thời nhà Đường, có thể bắt gặp nó trong nhiều tư liệu với tên gọi khác là Mông Xung (艨冲).

Đôi nét về thuyền chiến Mông Đồng
Thuyền chiến Mông Đồng. (Ảnh qua Wikipedia)

Mông Đồng du nhập vào Việt Nam và trở thành loại chiến thuyền chủ lực, đóng góp lớn lao vào những chiến thắng trên sông nước của các triều đại quân chủ Việt.

An Nam chí lược của Lê Tắc cho rằng Đô hộ kinh lược sứ nhà Đường là Trương Châu đã chế ra thuyền Mông Đồng. Ông này cần cải thiện trang bị khí giới của lực lượng đồn trú nhà Đường vốn mỏng và thiếu, thuyền bè cũng chỉ có vài mươi chiếc rất chậm chạp. Thuyền Mông Đồng mới chế ra “mau như gió”, khiến cho các nước lân bang nể sợ. Đặc biệt trên thuyền có trang bị máy móc như máy bắn nỏ, chứng tỏ đây là một phương tiện chiến tranh chuyên dụng, đặc chủng.

Loại thuyền này được ghi nhận lần đầu ở Việt Nam từ năm 807 – 809. Năm 931, tướng Dương Đình Nghệ đã sử dụng thuyền Mông Đồng trong các trận thủy chiến chống quân Nam Hán xâm lược. Trong trận Bạch Đằng năm 938, loại thuyền chiến Mông Đồng thường có 32 tay chèo kèm theo 25 lính chiến đấu đã phát huy tác dụng rất lớn.

Đôi nét về thuyền chiến Mông Đồng
Thuyền chiến Mông Đồng. (Ảnh qua Wikipedia)

Mông Đồng tiếp tục cấu thành bộ phận đáng kể nhất trong thủy quân các triều đại Việt Nam tự chủ. Trần Phu nhà Nguyên nhắc tới loại thuyền đặc sắc này của nước ta trong An Nam tức sự. Ông cũng đề cập người nước ta biến tấu với loại thuyền này rất nhiều, cả về kích thước. Thuyền Mông Đồng ban đầu chỉ có 25 tay chèo và 23 chiến thủ, đến thời Trần, theo Trần Phu, đã có thuyền Mông Đồng có cả trăm tay chèo. Ký họa dân gian lẫn của du khách phương Tây thế kỷ 17 cho thấy những chiến hạm đồ sộ này được biên chế song song với các thuyền nhẹ cơ bản.

An Nam chí lược ghi chép đại khái về cấu tạo của thuyền này: “Châu khiến đóng thành kiểu thuyền mông đồng, 32 chiếc, mỗi chiếc chở thuỷ-thủ 25 người, trạo-phu 23 người, 2 cây nỏ bắn xe, thuyền chèo tới lui, mau như gió.”

Về cơ bản đây là loại thuyền đáy nông, chèo tay, ra vào sông lạch thuận tiện. Cấu hình phổ biến không có sàn trên như galley của châu Âu, nhưng các thuyền lớn hàng trăm tay chèo rất có thể có sàn. Sập cho chỉ huy nằm phía mũi thuyền, giữa thuyền chứa các khí cụ cần thiết. Thuyền có mái gỗ để che tên đạn. Hình ảnh trên Chương Đỉnh cho thấy mái của thuyền còn có thể thay thế bằng sàn gỗ để binh lính đứng chiến đấu bên trên. Trần Phu tả lại đuôi thuyền cao vút như cánh uyên ương.

Đôi nét về thuyền chiến Mông Đồng
Mô hình tàu chiến Mông Đồng thời Trịnh. (Ảnh qua Wikipedia)

Lê Tắc ghi chép nguyên thủy thuyền có 2 máy nỏ. Mô hình ở chùa Keo thế kỷ 17 cho thấy 2 cây nỏ đã được thay thế bằng 2 đại bác hướng ra phía mạn. Mạn thuyền không có đồ che chắn, nhưng để hở để bắn súng pháo.

Đến thế kỷ 17, Thích Đại Sán của Trung Hoa ghi trong “Hải Ngoại Kỷ sự” về thuyền mông đồng nước Việt như sau: “Thuyền sơn son láng bóng, soi mặt được, tả hữu đều 25 chèo, thủy quân đều rất mạnh mẽ, cửa khoang thuyền chạm long vân, sơn đỏ, trên che đệm có đằng văn, dưới trải chiếu lác mịn màu xanh lục, lò đốt kỳ nam, hộp vàng bày cau trầu, có đủ các thứ gối tựa, ống nhổ”.

Đôi nét về thuyền chiến Mông Đồng
Tranh thuyền chiến Mông Đồng của Samuel Baron. (Ảnh qua lichsuvn.net)

Thời Lê-Trịnh, chúa Trịnh lẫn chúa Nguyễn đều có trong tay mình hàng trăm chiếc Mông Đồng. Khi tham gia chiến trận, ưu thế về tốc độ và sự linh hoạt của thuyền phát huy tác dụng mạnh nhất khi được sử dụng với số lượng lớn để chống lại chiến thuyền cỡ lớn của đối phương. Trong trận cảng Eo năm 1643, 50 thuyền của chúa Nguyễn với số lượng áp đảo đã vây hãm, nã pháo như mưa vào tàu địch và đánh bại 3 tàu chiến của Hà Lan. Nhờ đóng góp to lớn của chúng, thuỷ quân Việt Nam đã đánh thắng một lực lượng hải quân hùng mạnh của Âu Châu lần đầu trong lịch sử.

Với sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật hải quân phương Tây, đến thế kỷ 19 thuyền Mông Đồng đã trở nên lạc hậu. Vai trò lịch sử của loại chiến thuyền độc đáo này đã chấm dứt cùng với sự suy vong của nhà Nguyễn.

Theo Facebook Lửa Việt Studio
Độc giả quan tâm tới lịch sử Việt Nam mời ghé thăm trang.

Xem thêm: