Trong văn hóa truyền thống, người ta cho rằng ai ai cũng có mệnh, họa phúc cả đời của một người đều là đã có định số, phú quý là căn cứ theo đức tích lại từ kiếp trước mà thành. Kỳ thực, từ rất nhiều câu chuyện thực tế mà xem xét, thì điều này khiến nhiều người phải thừa nhận.

bao dung
(Hình minh họa: Qua jinquanjz.com)

Nếu như vì tâm đố kỵ và sự bất mãn mà tranh đấu, làm hại người khác, thì chẳng những không thay đổi được vận mệnh của bản thân, mà ngược lại còn tạo nghiệp tích họa cho chính mình.

Vậy mới nói, làm người cần đạm bạc, thản đãng và độ lượng một chút, ngàn vạn lần không nên giữ tâm đố kỵ trong lòng. Bởi vì, tâm đố kỵ đối với mình và đối với người khác chỉ có hại chứ không có lợi gì.

Cổ ngữ có câu: “Cái trán của Tướng quân rộng đến mức có thể phi ngựa, cái bụng của Tể Tướng rộng đến mức có thể chèo thuyền”. Ý nói, một người có tấm lòng rộng lớn mới có thể làm được việc lớn, mới có thể bao dung được những việc khó bao dung của thiên hạ.

Phàm là người càng giữ trọng trách lớn càng phải hiểu mệnh. Người có tấm lòng bao dung rộng lượng, không so đo với người, dung nạp được cả những điều người bình thường khó dung nạp thì mới làm được việc lớn, được người đời kính trọng.

Sống không tranh, không đố kỵ được sử sách lưu danh, người người kính trọng

bao dung
(Hình minh họa: Qua pinterest)

Trong lịch sử có rất nhiều ví dụ điển hình về người đạo đức cao thượng, sống không tranh, bao dung rộng lượng, ung dung tự tại với đời. Lữ Dư Khánh thời nhà Tống là một trường hợp như vậy. Lữ Dư Khánh là cận thần của vua triều nhà Tống – Tống Thái Tổ. Ông là người không hề có tâm ghen tức đố kỵ, có đức hạnh và bao dung giản dị.

Thời gian Triệu Khuông Dẫn đang nhậm chức Đồng Châu Tiết độ sứ, đã nghe nói Lữ Dư Khánh có tài năng hơn người, bèn xin triều đình đề bạt ông làm Định quốc quân chưởng thư ký. Về sau, Triệu Khuông Dẫn được cử đi nhậm chức ở các nơi, Lữ Dư Khánh đều đi theo phụ tá ông.

Lữ Dư Khánh có thể nói là bề tôi trung thành và đứng đầu của Tống Thái Tổ. Sau khi Tống Thái Tổ lên ngôi vua, Triệu Phổ, Lý Xử Vân đều được thăng chức và bổ nhiệm làm quan, nhưng Lữ Dư Khánh lại không được trọng dụng. Thường thì người nào trong tình huống như thế cũng sẽ thấy bất bình trong tâm, nhưng Lữ Dư Khánh lại không để bụng chút nào.

Không lâu sau, Lý Xử Vân bị giáng chức làm quan coi sóc Tri Châu. Lữ Dư Khánh từ ngoại thành trở về đô, Tống Thái Tổ trưng cầu ý kiến của ông thật kỹ càng về chuyện của Lý Xử Vân. Đối với việc Hoàng đế trọng dụng Lý Xử Vân, Lữ Dư Khánh chẳng những không hề có tâm đố kỵ hay oán giận, mà còn phân biện và giải thích cho ông ta. Hoàng đế cho rằng Lữ Dư Khánh nói rất có đạo lý.

Một lần khác, Triệu Phổ làm trái với mệnh lệnh của Hoàng đế, những người xung quanh đều tranh nhau bài xích gièm pha Triệu Phổ. Chỉ có một mình Lữ Dư Khánh đứng ra biện giải cho ông ta, nhờ đó Tống Thái Tổ mới dần dần nguôi giận.

Lữ Dư Khánh có tấm lòng bao dung độ lượng, trung nghĩa vô tư, không có tâm đố kỵ, người thời đó đều ca tụng ông là vị trưởng lão có đức hạnh. Ông làm quan đến chức Thị lang bộ Lại, Thượng thư tả thừa, trong cuộc đời làm quan có rất nhiều thành tích phi thường lớn. Ông luôn sống đạm bạc, thản đãng, không tranh với đời như vậy được người đời vô cùng kính trọng và sử sách lưu danh ngàn đời.

Chí công vô tư, lấy đại cuộc làm trọng mới làm được việc lớn

bao dung
(Hình minh họa: Qua kknews)

Tô Đĩnh là người huyện Vũ Công, Kinh Triệu vào thời nhà Đường. Thuở nhỏ ông tài hoa xuất chúng, 17 tuổi đã thi đỗ Tiến sỹ. Về sau, ông được thăng đến chức Trung thư xá nhân, cùng cha là Tô Hoàn quản lý việc cơ mật, phụ trách tiếp nhận các bản tấu trình của triều thần bốn phương và truyền đạt lệnh vua.

Tô Đĩnh bản tính thanh liêm tiết kiệm, làm quan thường ngay thẳng khuyên can, tài hoa bộc lộ, bao dung rộng lượng nên rất được Đường Huyền Tông (712 – 756) trọng dụng và khoản đãi.

Năm Khai Nguyên thứ 4 (tức là năm 716 Tây lịch), Tô Đĩnh được thăng chức Tử Vi hoàng môn, được phong làm Hứa quốc công, cùng với Tống Cảnh chủ trì chính sự (việc triều đình). Tống Cảnh là người cương trực, quả đoán, gặp chuyện thường hay tự mình cân nhắc quyết định mà không bàn bạc gì với Tô Đĩnh. Nhưng Tô Đĩnh đều không để tâm, rất tôn trọng những phẩm chất tốt đẹp của Tống Cảnh, dung nạp được hết những ý kiến của Tống Cảnh.

Tống Cảnh ở trước mặt Hoàng đế tấu trình sự việc, nếu có chỗ nào thiếu sót, Tô Đĩnh luôn ở bên cạnh trợ giúp và bổ sung, không hề so đo, khó chịu. Hai người họ phối hợp với nhau hết sức ăn ý, Hoàng đế thường vui lòng chấp thuận những kiến nghị của họ.

Tống Cảnh từng nói với người khác: “Ta và cha con nhà họ Tô cùng nhau làm Tể tướng. Phó xạ Tô Hoàn thì trung hậu và có tài năng thiên phú trong việc trị nước. Còn nếu nói về việc khuyên can khuyến cáo nhà vua, làm tròn bổn phận của bề tôi, gặp chuyện thì quyết đoán, chí công vô tư, ngày hôm nay Thừa tướng Tô Đĩnh đã vượt hơn cha mình“.

Từ xưa đến nay, người có thể buông bỏ tư tâm tự ngã, bao dung rộng lượng, chí công vô tư, lấy đại cuộc làm trọng, tôn trọng những chỗ hay chỗ tốt của người khác, đối với những chỗ chưa hoàn thiện của người khác thì lặng lẽ bổ sung để cùng viên dung là người vô cùng hiếm thấy. Đây là một phẩm hạnh và tấm lòng hiếm có mà những người đức hạnh muốn làm nên nghiệp lớn không thể thiếu được. Đồng thời, đây cũng là đức hạnh của những người phải trải qua tu tâm  dưỡng tính mới có thể làm được.

An Hòa (dịch và t/h)

Xem thêm: