Đế quốc Khmer hay Đế quốc Angkor là đế quốc rộng lớn nhất phía Nam và Đông Nam Á với diện tích lên đến 1,2 triệu km², bao gồm cả Miến Điện (Myanmar), Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia, và vùng Nam Bộ thuộc Việt Nam ngày nayTrong khi đó, diện tích của Đại Việt thời nhà Lý chưa đến 111.000 km².

Nếu so về diện tích thì Đại Việt quá bé nhỏ, nhưng nền văn minh Đại Việt thời điểm đó không hề thua kém. Thời nhà Lý thuộc giai đoạn phát triển rực rỡ trong sử Việt với niềm tin tín ngưỡng là nền tảng cho sự phát triển.

Ankor
Bản đồ Đế quốc Ankor so sánh với Đại Việt và Chiêm Thành.

Đế quốc Angkor cực thịnh

Di sản lớn nhất của đế quốc Angkor là kinh đô Angkor Wat. Năm 2007 các nhà nghiên cứu trên thế giới đã kết luận rằng Angkor là thành phố thuộc thời kỳ tiền công nghiệp lớn nhất thế giới với diện tích 1.150 dặm vuông. Thành phố cạnh tranh tiêu chí này gần nhất với Angkor là thành phố Tikal của văn hóa Maya ở Guatemala, có tổng diện tích khoảng 50 dặm vuông.

Năm 1113, vua Suryavarman II của đế quốc Angkor lên ngôi, đây được xem là một trong những vị Vua vĩ đại nhất của đế quốc này. Kinh đô Angkor Wat được khởi công xây dựng, là quần thể kiến trúc mang tầm cỡ thế giới đương thời.

Angkor
Angkor Wat (Ảnh từ Bjørn Christian Tørrissen – wikipedia.org)

Với sự hưng thịnh của mình, vua Suryavarman II liên tiếp tổ chức những cuộc hành quân xâm lấn các nước láng giềng để bành trướng lãnh thổ, vùng đất phía tây Chiêm Thành cũng liên tục bị tấn công cướp phá. Tham vọng bành trướng của vua vua Suryavarman II hầu như không có điểm dừng, và Đại Việt cũng nằm trong số đó.

Đại Việt cực thịnh

Lúc này Đại Việt đặt dưới sự cai trị của vua Lý Nhân Tông. Dù đất nước bị kẹt giữa gọng kìm là liên minh Tống – Chiêm, nhưng dưới sự phò tá của Lý Thường Kiệt, Đại Việt đã phá Tống – bình Chiêm, phá tan liên minh gọng kìm này. Nhà Vua là người mộ Đạo, dùng Phật Pháp để giáo hóa dân chúng, khiến Giang Sơn thái bình, Xã Tắc ổn định.

Giáo dục Đại Việt được phát triển mạnh. Năm 1075 đánh dấu kỳ thi khoa bảng đầu tiên bằng khoa thi “Tam trường” để chọn Minh kinh Bác học, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh chính là Trạng nguyên khoa bảng đầu tiên của Đại Việt.

Angkor
Quần thể Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Quần thể Văn Miếu – Quốc Tử Giám. (Ảnh: Flickr, Manhhai)

Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây dựng trường Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu, đây được xem là trường đại học đầu tiền của Việt Nam. Rất nhiều nhân tài giúp Giang Sơn Xã Tắc giàu mạnh đều xuất thân từ ngôi trường này. Đại Việt nhờ đó mà phát triển cực thịnh, sẵn sáng chống trả những cuộc xâm lăng của đế quốc Khmer hiếu chiến.

Lần tấn công thứ nhất

Ngày 4 tháng Chạp năm Đinh Mùi 1127, vua Lý Nhân Tông mất, Lý Thần Tông lên nối ngôi khi mới 12 tuổi. Nghe tin vua Đại Việ mất, vua mới lại còn nhỏ tuổi, vua Suryavarman II cho rằng thời cơ đã đến liền nhanh chóng cất quân chinh phục Đại Việt.

Tháng 2/1128, Đế quốc Angkor huy động hơn 2 vạn quân tiến đánh Đại Việt. Quân Khmer tiến đến bến Ba Đầu, châu Nghệ An.

Nghệ An là vùng biên giới phía nam nên được bố trí phòng thủ kỹ càng, trước sự tấn công của quân Khmer, quân Đại Việt Nghệ An vừa ra sức phòng thủ vừa cho báo tin gấp về Kinh thành. Vua sai Thái phó Lý Công Bình lĩnh cấm quân (quân tinh nhuệ) phối hợp cùng quân ở châu Nghệ An đánh giặc.

Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi chép rằng:

“Mậu Thân, Thiên Thuận năm thứ 1[1128]. Mùa xuân, tháng giêng… Ngày Giáp Dần, hơn hai vạn người Chân Lạp vào cướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An. Xuống chiếu cho Nhập nội thái phó Lý Công Bình đem các quan chức đô cùng người châu Nghệ An đi đánh”.

Chỉ chưa đầy 1 tháng, Lý Công Bình đã đánh quân Khmer tan tác, bắt được tướng giặc, cho người báo tin mừng về Kinh thành.

Vào ngày đinh mão tháng 2 năm 1128, khi các quan đang dâng biểu mừng Vua mới lên ngôi cũng là ngày nhận tin báo thắng trận từ Nghệ An.

Lần tấn công thứ hai

Bị thua đau ở Đại Việt, vua Suryavarman II quyết tâm tiến đánh phục thù.

Sau hơn nửa năm chuẩn bị, tháng 8/1128 đế quốc Angkor huy động đội quân đông hơn lần trước nhiều lần cùng 700 chiến thuyền tiến đánh Đại Việt. Quân Khmer tiến đến hương Đỗ Gia thuộc châu Nghệ An (nay thuộc Hà Tĩnh).

Phía Đại Việt đã đoán trước quân Khmer thua trận sẽ lại tiến sang, nên đã cử tướng Dương Ổ ở châu Nghệ An, Nguyễn Hà Viêm đóng ở Thanh Hóa đưa quân đón đánh, quân Khmer một lần nữa bị đánh tan.

Dù thua trận, nhưng vua Suryavarman II muốn ỷ thế nước lớn gửi tới vua Lý Thần Tông một phong quốc thư, yêu cầu Đại Việt cử sứ giả đến, nhưng phía Đại Việt không trả lời. Điều này cho thấy Đại Việt không hề sợ Angkor dù Đế quốc này thu phục nhiều nước khác khiến lân bang phải e sợ.

Sau thất bại này, vua Suryavarman II không hề từ bỏ ý định Đánh Việt, để chuẩn bị cho lần tấn công thứ 3 này, Đế quốc Khmer phải mất 4 năm, phối hợp cùng quân Chiêm Thành cùng tiến đánh Đại Việt.

(Còn nữa)

Trần Hưng

Xem thêm: