Trang Wikipedia tiếng Việt có đưa cả ý kiến của một sử gia nước ngoài về Nguyễn Trãi như sau:

Nguyễn Trãi là một nhà thơ tài năng, nhưng vai trò của ông về mặt chính trị và quân đội thì khá mờ nhạt. Lê Lợi và các tướng lĩnh khác chỉ muốn dùng tài năng thơ văn của Nguyễn Trãi để tuyên truyền và vận động dân chúng đứng về phía mình.

Keith Weller Taylor.

Ý kiến của Keith Weller Taylor, nhà sử học khá có ảnh hưởng đến giới nghiên cứu sử Việt Nam, nếu không là nguồn gốc thì cũng đóng vai trò quan trọng định hình xu hướng xét lại Nguyễn Trãi, theo đó thì vai trò thực tế của Nguyễn Trãi ít hơn nhiều so với nhận thức phổ biến lâu nay. Trường phái này, tạm gọi là trường phái Keith Weller Taylor, dù chứng cứ đưa ra và cách lập luận đều có vấn đề, nhưng vẫn thuyết phục được nhiều người.

Vậy thì Nguyễn Trãi đã có vai trò và công lao như thế nào?

Hai lần nhận được lời tiên tri, Nguyễn Trãi vẫn không thoát nổi số mệnh bị tru di tam tộc
(Tranh minh họa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)

Nguyễn Trãi là người phò tá được nhắc đến đầu tiên trong phần viết về Thái Tổ Lê Lợi. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép:

Phép dùng binh của vua là biết lấy mềm đánh cứng, lấy yếu thắng mạnh, cho nên phần nhiều đều dẫn tới thắng lợi. Các thành Nghệ An, Thuận Hoá, Tây Đô, Đông Đô đều sai văn thần Nguyễn Trãi viết thư, dụ bảo bọn giặc điều hoạ phúc, nên không cần đánh mà chúng phải đầu hàng, chưa từng giết lạm một người nào. Bắt được hơn 10 vạn viện binh của quân Minh, cũng đều tha cả.

Ở một đoạn khác, Toàn Thư chép:

Bấy giờ bọn Thông ở trong thành đã quẫn bách lắm rồi, chỉ còn trông cậy vào viện binh, thì viện binh lại bị ta đánh bại, cho nên phải giảng hoà, xin rút quân về nước.

Khi ấy, các tướng sĩ và người nước ta, khổ vì bọn giặc tàn ngược đã lâu, rủ nhau cố xin với vua rằng giặc nhiều mánh khoé biến trá, phải dùng quân mà đánh thắng chúng, khuyên vua hãy giết chúng đi. Chỉ có Hành khiển Nguyễn Trãi tham mưu ở nơi màn trướng, đã xem thư bọc sáp của Thông [gởi về nước] nói rằng:

Chớ vì một góc đất đai nhỏ nhoi mà bao phen làm nhọc quân đi muôn dặm. Giả sử dùng tới số quân như lần đánh ban đầu, có được 6, 7, 8 viên đại tướng… như bọn Trương Phụ thì mới có thể đánh được. Nhưng dẫu có đánh được cũng không thể nào giữ được.

Nên Trãi biết rất rõ chổ mạnh yếu của giặc, mới chủ trương hoà nghị. Vua nghe theo. Bèn lệnh cho các quân giải vây và rút ra.

Toàn Thư đã ghi rõ là Nguyễn Trãi ở bộ phận tham mưu (Duy hành khiển Nguyễn Trãi tại duy ốc). Ý kiến tham mưu của ông trong trường hợp trên đã có giá trị hơn ý kiến của các tướng nên được Lê Lợi nghe theo.

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, đã bộc lộ rất nhiều trong trước tác của ông, nếu không là ảnh hưởng đến tư tưởng và hành động của thủ lĩnh Lê Lợi thì chí ít cũng thể hiện được sự tương đồng, một cơ sở để Nguyễn Trãi được thay mặt Lê Lợi đảm nhiệm những công việc quan trọng như viết thư chiêu hàng, thảo hịch, ra tuyên cáo, vào thành thương thảo với Vương Thông.

Việc dụ hàng thành công các thành trì giúp giảm tổn thất và rút ngắn cuộc chiến. Ngoài ra chủ trương đó còn giúp cho việc thiết lập quan hệ thời hậu chiến với nhà Minh bớt được nhiều khó khăn. Đó là sự sáng suốt nổi bật của Nguyễn Trãi so với các tướng lĩnh. Đó là một chứng cứ để bác bỏ nhận định Nguyễn Trãi chỉ có vai trò thấp trong lực lượng Lam Sơn.

Theo Lê Qúy Đôn, thì Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi và trao Bình Ngô sách. Lê Lợi xem xong thì phong cho Nguyễn Trãi chức Tuyên phong đại phu Thừa chỉ Hàn Lâm viện, ngày đêm dự bàn việc quân.

Khi đã giải phóng phần lớn lãnh thổ và vây hãm Đông Đô, Lê Lợi lập dinh ở Bồ Đề. Toàn Thư chép:

Lấy Hàn lâm viện thừa chỉ học sĩ Nguyễn Trãi làm Triều liệt đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư kiêm hành Khu mật viện sự.

Bấy giờ, vua dựng lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô. (Khi ấy, có hai cây bồ đề ở trong dinh, nên gọi là dinh Bồ Đề), cao bằng tháp Báo Thiên, hằng ngày vua ngự trên lầu nhìn vào thành để quan sát mọi hành vi của giặc, cho Trãi ngồi hầu ở tầng hai, nhận lệnh soạn thảo thư từ qua lại.

Đại Việt Thông Sử chép:

Phong cho viên Hàn Lâm Viện Thừa chỉ học sĩ là Nguyễn Trãi chức “Triều liệt đại phu nhập nội hành khiển, Lại bộ Thượng thư, kiêm Cơ Mật viện”. “Hoàng đế sai dựng một cái lầu mấy tầng trong dinh Bồ Đề, hằng ngày ngài ngự tại từng lầu trên cùng, để trông vào thành bên địch, cho Nguyễn Trãi ngồi ở tầng lầu dưới, để bàn luận cơ mưu hầu ngài, và thảo những thư từ gởi tới.

Các ghi nhận trên đều chứng tỏ vai trò quan trọng của Nguyễn Trãi đối với Lê Lợi trong cuộc chiến tranh.

Lại bộ thượng thư, một trong các chức danh kiêm nhiệm của Nguyễn Trãi, phụ trách bộ máy hành chính của chế độ giai đoạn từ không đến có, thể hiện sự đánh giá cao của Lê Lợi dành cho ông.

Nguyễn Trãi là người đầu tiên được đề cập trong đại hội ban thưởng công lao, vào tháng 3 năm 1428:

Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công, ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc.

Lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu; tư đồ Trần Hãn làm Tả tướng quốc; Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái Bảo; đều được ban quốc tính.

Thái bảo là chức danh thuộc hàng tam sư, hàng quan đầu triều, Tả tướng quốc là vị trí đứng đầu tất cả các quan lại. Nguyễn Trãi đứng trước cả hai vị trí đó nên có thể coi là siêu quan, địa vị của chiến lược gia, cố vấn đặc biệt.

Quan điểm không thừa nhận công lao lớn của Nguyễn Trãi chủ yếu dựa vào đợt ban biển ngạch công thần cho 93 người vào tháng 5 năm 1529, trong đó Nguyễn Trãi được phong Á hầu và xếp dưới hàng chục người khác.Tuy nhiên cách suy luận này thiếu thuyết phục.

Thời điểm đó Trần Nguyên Hãn mới bị kết tội và bị bức tử, tháng 2 cùng năm. Nguyễn Trãi là người bà con cô cậu với Trần Nguyên Hãn nên không khỏi bị liên lụy, có thể ông đã bị bắt giam trong giai đoạn này. Điều đó đủ là lý do ông bị thất sủng và nhận tước thấp.

Toàn Thư chép tên người nhận tước Á hầu là Lê Trãi, với chữ Trãi (豸) khác với chữ Trãi (廌) vốn là tên của ông. Khi soạn văn bia Vĩnh Lăng vào năm 1533 thì tên ông là Nguyễn Trãi (阮 廌), chứ không phải là Lê Trãi (黎 豸), qua đó thì không thể loại bỏ khả năng có một ông Lê Trãi khác được phong thưởng, còn Nguyễn Trãi không được nhắc đến. Dù sao, việc Nguyễn Trãi đã không còn mang quốc tính vào năm 1533, chứng tỏ ông đã bị thất sủng dần sau cuộc chiến nên việc ông được phong thưởng thấp hơn so với nhiều người khác không thể là chứng cứ để cho rằng vai trò và công trạng của ông thấp.

Chứng cứ quan trọng về vai trò của Nguyễn Trãi là sự ghi nhận của vua Lê Thánh Tông:

BÀI CHẾ PHONG TẶNG TƯỚC TẾ VĂN HẦU CHO LÊ TRÃI

Thuận mệnh trời, theo vận nước, Hoàng thượng nói rằng: Ta vì muốn bắt chước phép nhà Ân mà trị nước, để mở rộng cơ nghiệp của tổ tông, muốn dựa theo lệ nhà Chu mà ghi công để thực hiện trị an cho đất nước, cho nên cần làm việc ban cấp sắc phong, sửa sang phần mộ.

Xét vị công thần khai quốc trước kia, được phong tước Trụ quốc Tân trù bá, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu là Lê Trãi, đem đạo học chân chính mà giúp việc nước nhà, vạch kế hoạch rộng lớn mà sửa nền chính trị. Trong buổi Tổ phụ ta khởi nghĩa ở Lam Sơn, để gây dựng lại cơ đồ nước Việt, ông đã vào Lỗi Giang theo quân lập được nhiều thành tích tốt, trong việc bình Ngô, danh vọng của ông vang lừng trong bốn bể, mưu lược của ông rõ rệt dưới hai triều. Dẫu rằng thời mệnh không đi đôi với nhau, khó biết được lẽ huyền bí, nhưng công lao của ông được ghi chép lâu ngày, hiện còn thấy trong sổ sách. Trước kia ông đã được ban ân rất hậu, ngày nay càng nên tặng thưởng thêm. Vì lẽ đó, nay đổi tước bá, thăng tước hầu, vừa để biểu dương công lao cống hiến cho nước, vừa để nêu rõ đạo học bổ ích cho đời.

Than ôi! Rồng hổ gió mây hội trước, tưởng lại tiền nhân. Văn chương sự nghiệp dấu xưa truyền cho hậu thế.

Vậy gia tặng Trụ quốc Tế văn hầu, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu.

Và bài thơ “Minh Quân Thần Lương” của nhà vua, trong tập Quỳnh uyển cửu ca”, năm Hồng Đức thứ 25:

Cao đế anh hùng cái thế danh
Văn hoàng dũng trí phủ doanh thành
Ức Trai tâm thượng quan Khuê tảo
Võ Mục hưng trung liệt giáp binh
Thập Trịnh đệ huynh liên quí hiển
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh
Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự
Bát bách Cơ Chu lạc trị bình
Bản dịch của nhóm Lê Thước:
Cao đế anh hùng dễ mấy ai,
Văn Hoàng trí dũng kế ngôi trời.
Văn chương Nguyễn Trãi lòng soi sáng,
Binh giáp Lê Khôi bụng chứa đầy.
Mười Trịnh vang lừng nền phú quý,
Hai Thân sáng rạng vẻ cân đai.
Cháu nay Hồng Đức nhờ ơn trước,
Cơ nghiệp Thành Chu vận nước dài.

(Phần Văn tuyển, trong “Hoàng Việt thi văn tuyển” của Tồn Am Bùi Huy Bích, do Lê Thước, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu, Vũ Đình Liên dịch, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1957).

Nhà vua ghi nhận công lao to lớn của Nguyễn Trãi và đặt ông trước các triều thần khác.

Như vậy các dẫn chứng trên đã đủ để bác bỏ những nhận định theo trường phái Keith Weller Taylor.

Các nhà nghiên cứu người nước ngoài có một số lợi thế nhất định trong việc nhìn nhận nhiều vấn đề về lịch sử Việt Nam, nhiều người đã trở thành những tên tuổi lớn. Tuy vậy, đó không hẳn là một sự đảm bảo.

Đăng lại từ bài viết “Về Nguyễn Trãi” đăng trên Fanpage Đại Việt Cổ Phong
Theo Facebook Hoàng Cương