Giá trị trung tâm của văn hóa truyền thống chính là trung, hiếu, lễ, nghĩa. Bởi vậy, trung thần và hiếu tử trong các thời đại xuyên suốt lịch sử đều được người đời tôn sùng, kính trọng. 

trung thần

Nhưng từ lịch sử mà soi xét, hiếu tử (người con hiếu thảo) phần lớn đều được xuất sinh trong các gia đình bần cùng, khốn khó; còn trung thần lại phần lớn xuất hiện khi đất nước rơi vào cảnh nguy nan. Bởi vậy, cổ nhân mới đúc kết lại thành câu: “Hàn môn xuất hiếu tử, quốc phá thức trung thần” (Tạm dịch: Nhà nghèo sinh con hiếu, nước nguy biết trung thần).

Trong “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử cũng viết: “Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa; trí tuệ xuất, hữu đại ngụy; lục thân bất hòa, hữu hiếu từ; quốc gia hôn loạn, hữu trung thần”, ý nói đại đạo mất thì mới có cái gọi là nhân nghĩa; trí tuệ sinh ra thì mới có cái gọi là dối trá lớn; lục thân bất hòa thì người đời mới tôn vinh kẻ hiếu người lành; đất nước rối loạn thì trung thần mới xuất hiện. Trong lịch sử thực sự đã có rất nhiều minh chứng cho điều này.

Một tấm gương điển hình về hiếu thảo, có xuất thân bần cùng là Hoàng Hương. Thời cổ đại, Hoàng Hương là người Giang Hạ, Hồ Bắc. Năm Hoàng Hương lên chín tuổi thì mẹ cậu qua đời, cha của cậu là một vị quan nhỏ. Hai cha con họ sống nương tựa vào nhau, cuộc sống bần cùng khốn khổ. Hoàng Hương là người có tri thức rộng, lại hiểu biết lễ nghĩa, đối với cha vô cùng hiếu thảo. Hàng ngày cậu đều giành làm những công việc tương đối nặng nhọc để cho cha mình có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn.

Vào ngày hè nóng bức, Hoàng Hương biết cha mình không chịu được nóng, thời tiết nóng thường làm ông không ngủ được, lại còn bị muỗi đốt nữa. Vì thế mà mỗi tối trước khi cha đi ngủ, Hoàng Hương thường dùng quạt quạt gối và chiếu cho mát, rồi đuổi muỗi xong mới mời cha đi ngủ. Đến mùa đông lạnh giá, Hoàng Hương sợ cha bị lạnh, cậu bèn nằm trên giường ủ ấm chăn chiếu, rồi mới mời cha lên giường nghỉ ngơi.

Lòng hiếu kính đối với cha của Hoàng Hương khiến người đời ca ngợi không ngớt. Lúc ấy trong kinh thành truyền lưu một câu ca dao dân gian: “Thiên hạ vô song, Giang Hạ Hoàng Hương”, tức là hiếu thuận như Hoàng Hương ở quận Giang Hạ, e rằng thiên hạ không có người thứ hai.

Đó là về kẻ hiếu, nói về người trung thì Nhạc Phi sinh vào những năm cuối thời Bắc Tống là một ví dụ điển hình về tấm gương tận trung báo quốc khi đất nước nguy nan. Năm Nhạc Phi 23 tuổi, quân Kim tấn công thủ đô Đông Kinh (nay là Hà Nam) của nước Tống.

Quân Kim ngoài việc đốt sách, đánh đập và cướp của cải của dân chúng còn bắt giam Tống Huy Tông, Tống Khâm Tông, cùng với rất nhiều người trong Hoàng tộc. Tổng cộng lên đến hơn 3000 người, bao gồm cả các phi tần và quý khanh trong hậu cung… đều bị bắt làm tù binh. Cả người và của trong thành Đông Kinh lúc ấy gần như không còn lại gì. Sự kiện này được người đời sau gọi là “Tĩnh Khang chi sỉ” (Nỗi nhục của Tĩnh Khang – niên hiệu của vua Khâm Tông thời Tống).

Giữa lúc đất nước loạn lạc, nguy nan, trong một lần dẫn quân, với lòng bi phẫn bởi chí lớn chưa thành, Nhạc Phi đã sáng tác “Mãn Giang Hồng”, Trong đó viết: “Tĩnh khang sỉ, do vị tuyết, thần tử hận, hà thì diệt!” (Tạm dịch: Nỗi nhục Tĩnh Khang còn chưa rửa sạch, hận thù này bao giờ mới diệt được). Khí thế và tinh thần của Nhạc Phi không chỉ cổ vũ tinh thần của binh lính mà còn khiến cho người đời cảm thấy rất kính phục.

Một vị trung thần khác được người xưa khâm phục cũng xuất sinh vào lúc vương triều Nam Tống ở vào lúc nguy nan, sắp bị quân Nguyên tiêu diệt là Văn Thiên Tường. Văn Thiên Tường có thiên tính trung nghĩa, xả thân vì đất nước trong cơn nguy khốn.

Thời ấy, quân Mông Nguyên xâm lược Trung Nguyên, tình hình chính quyền triều đại Nam Tống bất ổn định. Văn Thiên Tường là nhà thơ nổi tiếng vào những năm cuối Nam Tống. Ông là một vị quan văn, nhưng trước cảnh Mông Nguyên xâm lược, ông đã dũng cảm ra chiến trường. Ông nói với mọi người rằng: “Cứu nước như cứu cha mẹ. Cha mẹ có bệnh, cho dù là bệnh khó chữa trị thì con cái vẫn phải toàn lực cứu chữa!” Năm 1278, Văn Thiên Tường bị bắt làm tù binh.

Trên đường bị áp giải đến Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay), Văn Thiên Tường đã viết: “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử? Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.” (Tạm dịch: Xưa nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh). Câu thơ này đã trở thành một áng thơ ca bất hủ nghìn đời. Nguyên thế tổ Hốt Tất Liệt đã dùng quan to lộc hậu để dụ Văn Thiên Tường chiêu hàng nhưng ông thà chết không chịu khuất phục.

Cổ ngữ nói: “Tật phong tri kính thảo, bản đãng thức thành thần” (Tạm dịch: Gió lớn mới biết cỏ cứng, hỗn loạn mới biết trung thần). Trong lúc “gió yên” thì “cỏ cứng” sẽ hòa lẫn vào với những loại cỏ thông thường khác, cũng giống như trong cuộc sống bình hòa thì “trung thần” cũng dễ dàng bị lẫn lộn trong người thường vậy. Thậm chí khó để phân biệt gian thần và trung thần.

Ở vào mỗi một khoảng thời gian khó khăn, ở vào nghịch cảnh, thậm chí là ở vào lúc nguy hiểm đến sinh mệnh nếu như vẫn có thể kiên trì theo đuổi tín ngưỡng và đức hạnh của bản thân mình thì đó mới thực sự là “trung thần nghĩa sĩ”, là người quân tử đáng tôn kính. Đây chính là lý do mà từ thời thiên cổ đến nay, rất nhiều người cho dù là bị thất bại thảm hại những vẫn được hậu nhân tán dương và kính trọng.

An Hòa

Xem thêm: