Khổng Tử tôn sùng và đề cao những lời nói chất phác mộc mạc, phản đối hoa ngôn xảo ngữ. Ông cho rằng, nói chuyện phải cẩn thận, nói được thì phải làm được. Một người có thể làm trước nói sau, nhưng nhất định không nên nói chuyện, làm việc tùy tiện theo ý thích, hoặc chỉ nói mà không làm, chỉ nói lời “chót lưỡi đầu môi”. Ông luôn không đồng tình với những người xảo ngôn và những người luôn có dáng vẻ xu nịnh.

Trong “Luận Ngữ. Công dã trường”, Khổng Tử viết: “Xảo ngôn lệnh sắc, túc cung, tả khâu minh sỉ chi, khâu diệc sỉ chi! Nặc oán nhi hữu kì nhân, tả khâu minh sỉ chi, khâu diệc sỉ chi!”, nghĩa là: Hoa ngôn xảo ngữ, giả bộ sắc mặt dễ nhìn, hiển lộ ra dáng vẻ khúm núm xu nịnh, cung kính quá mức đến thấp hèn. Tả Khâu Minh cho rằng người như thế khuyết thiếu sỉ, đáng xấu hổ. Ta cũng cho rằng đáng xấu hổ. Người đem oán hận chất đầy trong lòng, nhưng bộ dạng bên ngoài lại thể hiện ra như thân thiết. Tả Khâu Minh cho rằng người như thế khuyết thiếu sỉ, đáng xấu hổ. Ta cũng cho rằng đáng xấu hổ! (Tả Khâu Minh là sử gia nước Lỗ, thời Xuân Thu).

Sở dĩ, Khổng Tử cho rằng người hoa ngôn xảo ngữ và có bộ dạng giả tạo là người đáng xấu hổ là bởi vì theo ông, người như thế có nhân cách không tốt. Người “khẩu thị tâm phi” (miệng nói một đường, tâm nghĩ một nẻo), trong ngoài không đồng nhất thì rất khó để trở thành người nhân từ.

Trong xã hội ngày nay, người “hoa ngôn xảo ngữ”, bộ dạng giả tạo lại rất nhiều. Thậm chí, đó còn được xem là một loại kỹ năng sinh tồn, một loại thủ đoạn để tranh danh đoạt lợi. Nhưng những người như vậy thật khó để có được sự tín nhiệm lâu dài của người khác. Thuận theo thời gian trôi qua, “cảnh còn người mất”, những người này chắc chắn sẽ gặp phải kết cục thê thảm vô cùng. Ví như nịnh thần Hòa Thân, triều nhà Thanh. Hòa Thân được đánh giá là kiểu người có thủ đoạn “hoa ngôn xảo ngữ”, bộ dạng giả tạo. Những thủ đoạn này thực sự được Hòa Thân khai triển đến mức triệt để. Dựa vào sự tín nhiệm của Hoàng đế, Hòa Thân ra sức vơ vét của cải. Nhưng đến khi chỗ dựa vững chắc của ông ta – Hoàng đế Càn Long qua đời thì ông ta liền bị Hoàng đế Gia Khánh tuyên bố phạm hai mươi tội trạng, ban cho tự vẫn.

Gian tướng Dương Quốc Trung triều nhà Đường, thời Hoàng đế Đường Huyền Tông cũng là một ví dụ. Dương Quốc Trung cũng là nhân vật đại biểu cho kiểu người hoa ngôn xảo ngữ, bộ dạng giả tạo. Dương Quốc Trung là anh họ Dương Quý Phi (sủng thiếp của Đường Huyền Tông), không có học vấn, cũng không có nghề nghiệp, hành vi không đứng đắn, hoang dâm vô độ, không từ một việc xấu nào. Trong “Tân Đường Thư” viết về Dương Quốc Trung: “Nịnh hót, chuyên chiều theo thứ mà Hoàng đế thèm”.

Dương Quốc Trung thông qua Dương Quý Phi, nắm rõ được tâm lý và sở thích, sở ghét của Hoàng đế Đường Huyền Tông. Nhờ đó, ông ta dễ dàng được Đường Huyền Tông tin tưởng một cách mù quáng. Về sau, Dương Quốc Trung được lên làm Tể tướng, một mình kiêm hơn 40 chức. Thuận theo sự thăng tiến về địa vị, Dương Quốc Trung ngày càng sống xa hoa hủ hóa. Mặc dù các đại thần trong triều đều căm hận ông ta nhưng Hoàng đế lại “mắt điếc tai ngơ”.

Trong triều, An Lộc Sơn thập phần kính sợ Lý Lâm Phủ túc trí đa mưu nhưng lại xem Dương Quốc Trung là kẻ tầm thường. Sau khi Dương Quốc Trung lên chức tể tướng, biết không thể chế ngự được An Lộc Sơn liền thường xuyên tâu với Đường Huyền Tông rằng An Lộc Sơn có âm mưu tạo phản. Ông ta muốn mượn tay Đường Huyền Tông để diệt trừ An Lộc Sơn. Mâu thuẫn giữa Dương Quốc Trung và An Lộc Sơn trở nên gay gắt, hơn nữa ông ta là kẻ gian tà nịnh bợ, nhận hối lộ công khai, chính trị hủ bại, lòng dân oán thán, rốt cuộc khiến An Lộc Sơn phát động phản loạn lấy danh nghĩa thảo phạt Dương Quốc Trung. Cuối cùng Dương Quốc Trung bị loạn quân giết chết, triều Đường cũng từ thịnh chuyển thành suy.

Đồng dạng, Hán Vũ Đế Lưu Triệt cũng có một nịnh thần Thượng Quan Kiệt. Có một lần, Hán Vũ Đế sinh bệnh, sau khi khỏi bệnh ông phát hiện ra những con ngựa của mình đã gầy đi rất nhiều. Ông vô cùng tức giận nói: “Cứu lệnh (quan lại nuôi ngựa) có phải đã cho rằng ta không cần ngựa nữa?”

Nguyên lai là Thượng Quan Kiệt thấy Hán Vũ Đế bị bệnh nặng nên cho rằng Hoàng đế nhất định sẽ không qua khỏi. Ông ta sớm ngày luồn cúi tìm chỗ dựa dẫm, không còn lòng dạ mà cho ngựa ăn. Vì thế ngựa ngày càng gày gò ốm yếu. Hiện tại, Hoàng thượng khỏe mạnh lại khiến Thượng Quan Kiệt rất lo lắng. Nhưng ông ta là người lòng dạ thâm sâu, lại phi thường gian hoạt, nắm bắt được tâm ý của Hoàng thượng. Vì thế, ông ta liền hoa ngôn mà nói rằng: “Thần nghe nói Hoàng thượng long thể bất an, nên ngày đêm lo lắng, làm sao có lòng dạ chăm lo cho ngựa nữa? Hiện giờ Hoàng thượng đã long thể bình phục rồi, thần có chết cũng cam tâm tình nguyện.” Nói xong, ông ta không ngừng khóc thảm thiết.

Hán Vũ Đế thấy vậy, mọi tức giận trong phút chốc đã tiêu mất. Không những không trách tội Thượng Quan Kiệt mà còn khen ngợi, trọng dụng ông ta. Không lâu sau, Hoàng đế phong ông ta làm Kỵ đô úy, Thái bộc, Tả tướng quân. Thượng Quan Kiệt xảo ngôn, nịnh bợ cũng được xếp vào hàng cực độ.

Sau khi Hán Vũ Đế qua đời, Thượng Quan Kiệt làm Phụ chính đại thần, lộng quyền, mưu lợi cá nhân, hãm hại trung lương. Đến năm thứ 7 Thủy Nguyên, Thượng Quan Kiệt cuối cùng cũng bị Hán Chiêu Đế nghiêm trị xử tử, chu di tam tộc.

Từ rất nhiều bài học lịch sử, có thể thấy, người hoa ngôn xảo ngữ, có bộ dạng xu nịnh giả dối để lấy lòng người hại không ít người, cuối cùng cũng hại chính bản thân mình.

Nguồn gốc của “Xảo ngôn, lệnh sắc”

Hoa ngôn xảo ngữ, bộ dạng khúm núm, xu nịnh có nguyên nghĩa từ câu thành ngữ “Xảo ngôn, lệnh sắc”. Câu thành ngữ này có nguồn gốc từ “Thượng Thư”. Trong đó có ghi lại câu chuyện như sau:

Cao Đào là quan trông coi hệ thống Tư pháp thời vua Thuấn. Một lần Vua Vũ và Cao Đào thảo luận về cách thống trị đất nước. Cao Đào nói: “Tin tưởng và làm theo cách của Tiên vương, xử lý việc chính trị, có thể dùng sách lược để thực hiện, các đại thần phải đoàn kết nhất trí, đồng tâm đồng đức.”

Vua Vũ nói: “Đúng rồi! Nhưng như thế nào mới có thể làm vậy được?”

Cao Đào nói: “Việc này trước tiên phải nghiêm khắc yêu cầu bản thân, làm tấm gương tốt, cố gắng đề cao tu dưỡng đạo đức, dùng thái độ đại lượng đối đãi nhân dân, đồng thời cũng phải biết bổ nhiệm người tài khiến họ gắng sức trợ giúp ngài cai quản đất nước.”

Vua Vũ vô cùng bội phục lời của Cao Đào, nói: “Ngài nói thật đúng!”

Cổ nhân: Khúm núm, xu nịnh là bộ dạng của người khuyết thiếu "sỉ"

Tiếp theo, Cao Đào lại nói: “Còn việc dùng người như thế nào cũng rất quan trọng, nhất định phải biết khéo dùng người.”

Vua Vũ nói: “Đúng vậy! Người biết dùng người mới là người đại trí. Người có trí thì dùng người mới thỏa đáng. Nếu có thể làm được điểm này thì sao còn phải sợ kẻ ‘xảo ngôn lệnh sắc’?”

Về sau, người ta dùng từ “xảo ngôn lệnh sắc” để nói về người nói lời ngon ngọt không thật lòng, ngụy trang bộ dạng hiền lành đáng tin để lấy lòng người.

An Hòa

Xem thêm: