Thời cổ đại, “trung tín” là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá phẩm đức của một người. Cổ nhân cho rằng, người tràn ngập tư tâm, tà niệm thì tất sẽ bất trung, người trung thành thì tất sẽ ngay chính. “Trung” là tiêu chuẩn đầu tiên để kết giao và là tiêu chuẩn để bậc hiền nhân dùng người.

Gia Cát Lượng

Trong “Thuyết văn giải tự” viết: “Trung, kính dã, tận tâm viết trung”, ý nói rằng “trung” cũng là “kính”, tận tâm tận lực làm hết bổn phận của bản thân thì được coi là “trung”.

Chữ “Trung” (“忠”, trung thành) được cấu thành bởi chữ “Trung” (“中”, giữa, trung tâm) và chữ “Tâm” (“心”, lòng).

Trong đó, chữ “Khẩu” (“口”)” trong chữ “Trung” (“中”) được chia thành hai phần bằng nhau, ý nói rằng, khi làm việc phải công minh, trung lập, vô tư, không nghiêng lệch, thiên vị. Ngoài ra, chữ “khẩu” (“中”) được một nét sổ dọc xuyên thấu thẳng đứng ở giữa, ý nói rằng phải nhất quán, trước sau như một. Nghĩa rộng hơn chính là phải tích đức, không dối trá, xằng bậy, phải ngay thẳng, giữ vững chính nghĩa.

Bên dưới của chữ “Trung” (“中”) là chữ “Tâm” (“心”) ý muốn nói rằng, chính nghĩa ấy xuất phát từ nội tâm, không phải là giả tạo, cũng có ý nói rằng làm người trong tâm phải luôn khắc sâu ghi nhớ lý niệm trung thành, chính trực, vô tư.

Liên quan tới chữ “Trung”, người xưa còn cho rằng “Trung” có tứ thuần, tứ chính, tứ bất khuy. Trong đó, “Tứ thuần” chính là trung thành, trung thực, trung hậu, trung tâm (nội tâm công minh). “Tứ chính” là khẩu chính, tâm chính, thân chính và hành chính (hành vi, làm việc ngay chính). “Tứ bất khuy” là trên không phụ Trời, dưới không phụ Đất, trong lòng không hổ thẹn với lương tâm, bên ngoài không phụ người khác.

“Trung” trên thực tế là thể hiện của đạo đức và sự tôn nghiêm, danh dự của một người. Có thể hết lòng tin theo như lúc ban đầu cũng được gọi là “Trung”. Giữa người với người có sự chân thành, tín nhiệm mà không bị những điều bất chính bên ngoài quấy nhiễu cũng là “Trung” vậy.

Trong “Tuân tử. Quân tử” viết: “Trung giả, đôn thận thử giả dã”, người thành thật và cẩn thận thì được xưng là người “Trung”.

Khổng Tử viết: “Người quân tử lấy trung tín làm chủ”. Cũng lại nói: “Vua phải dựa vào yêu cầu của Lễ để sai khiến bề tôi, bề tôi phải lấy Trung để phụng sự Vua.” Cái “Trung” này là làm hết phận sự, là “Vua ra vua, tôi ra tôi”. Bởi thế Mạnh Tử mới nói: “Vua là thuyền, dân là nước, nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền”, cũng giảng: “Ta nghe nói Chu Văn Vương có giết một kẻ thất phu tên là Trụ chớ chưa hề nghe nói giết vua bao giờ.”

Trong “Tả truyện” lại viết rằng: “Thượng tư lợi dân, trung dã”, người mà đặt lợi ích của dân lên trên thì được xưng là người “Trung”. “Lâm hoạn bất vong quốc, trung dã”, lâm vào hoạn nạn nhưng không quên đất nước thì cũng được gọi là người “Trung” vậy.

Có thể thấy rằng trong lý niệm kinh điển thời xưa, người “trung” trước hết phải là người hiểu đạo, luân lý làm người. Người “trung” không mù quáng hoàn thành phận sự, mà phải biết phân biệt rõ thiện ác, đúng sai, chính tà, có nhân, có nghĩa, có lòng yêu thương người khác, có trước có sau.

Trong lịch sử có rất nhiều ví dụ về thế nào là bậc “Trung thần” chân chính. Chẳng hạn như vị quan can gián nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa là Ngụy Trưng.

Ngụy Trưng tuy từng phục vụ cho rất nhiều người đối nghịch với Đường Thái Tông Lý Thế Dân, nhưng vẫn được trọng dụng sau khi Đường Thái Tông lên ngôi. Là một vị Gián nghị đại phu, phụ trách can gián, Ngụy Trưng không tuân theo mù quáng lời nói của Hoàng đế, mà có gan nói thẳng, nói thật. Có những lúc Hoàng đế không thích nghe những lời ấy liền giả vờ ngủ một cách mơ mơ màng màng.

Một lần, Ngụy Trưng khiến Hoàng đế bẽ mặt. Hoàng đế đến hậu cung gặp Trưởng tôn Hoàng hậu, nói: “Tên Ngụy Trưng này luôn gây khó dễ cho ta. Sớm muộn gì ta cũng sẽ tìm cớ trừng phạt hắn.”

Trưởng tôn Hoàng hậu nghe xong, lập tức thay lễ phục khi vào chầu vua, hành lễ trước Hoàng đế. Hoàng đế thấy vậy liền nói: “Hoàng hậu hành xử như thế là vì sao?”

Hoàng hậu vừa nghiêm túc vừa ôn hòa, nói: “Nô tì có việc khởi tấu Hoàng thượng vạn tuế!”

Hoàng đế đáp: “Chuẩn tấu!”

Trưởng tôn Hoàng hậu nói: “Chỉ có vị minh quân lúc nào cũng lo lắng cho muôn dân thiên hạ, làm việc công bằng và thánh minh như Hoàng thượng mới có được trung thần dám nói như Ngụy Trưng. Đây còn là may mắn của quốc gia, cái phúc của dân chúng. Quốc gia mới có thể bách nghiệp hưng thịnh, quốc thái dân an.”

Những lời nói của Hoàng hậu đã ảnh hưởng lớn đến Đường Thái Tông.

Sau này khi Ngụy Trưng mất, Hoàng đế vô cùng đau lòng, ba ngày không ăn uống. Ông nói: “Ngụy Trưng là tấm gương của Trẫm. Ông ta luôn chỉ ra chỗ thiếu sót của trẫm. Mặc dù văn võ bá quan trong triều đều đông đảo, nhưng người có gan dám nói ra những thiếu sót của trẫm thì duy chỉ có Ngụy Trưng mà thôi.”

Từ xưa đến nay, người trung chính, nhân nghĩa thì được người người kính trọng. Kẻ gian tà trá ngụy thì bị người người lên án, khinh bỉ. Cho nên, “trung” không chỉ là tiêu chuẩn mà còn là đạo đức tốt đẹp mà con người cần tu dưỡng.

An Hòa