Người xưa chia đức thành tám loại là hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, gọi chung là “Bát đức”. “Bát đức” này là tiêu chuẩn để đánh giá con người, hay nói cách khác, người mà không có bất cứ đức nào trong đó thì kỳ thực không thể được tính là người nữa. “Liêm” và “sỉ” là hai trong tám đức hạnh cao thượng nhất của con người, bởi vì người mà không có liêm thì thứ gì cũng lấy, người không có sỉ thì việc gì cũng dám làm.

Liêm sỉ trong lý niệm của cổ nhân
(Tranh minh họa qua phunutoday.vn)

“Liêm” (liêm khiết, trong sạch) là một trong những phẩm đức rất quan trọng của con người. “Liêm” vừa bao hàm ý nghĩa liêm khiết, trong sạch vừa bao hàm ý nghĩa tiết kiệm, thanh đạm.

Cổ nhân nói rằng: “Liêm là cái gốc của phú quý”. Không tham lam cũng được xem là “liêm”. “Liêm” thường được kết hợp với “thanh” (trong sạch) thành “thanh liêm”, không tham mà trở nên trong sạch. Nhưng suy xét sâu xa, thì “liêm” cũng được bắt nguồn từ “sỉ”, bởi người mà có “sỉ” (biết hổ thẹn) thì sẽ có “liêm” (không tham).

“Sỉ” chính là có tâm cảm thấy hổ thẹn. Khổng Tử giảng: “Hành kỷ hữu sỉ”, nghĩa là khi làm việc thì giữ mình, bởi biết làm xằng làm bậy là xấu hổ. Khổng Tử lại giảng: “Tri sỉ cận hồ dũng”, người biết xấu hổ thì cũng được xem là người gan dạ, dũng cảm. Người biết hổ thẹn mới có thể dũng cảm đối mặt với sai trái của mình, chiến thắng được bản thân mình, đây chính là thể hiện của “dũng”. Bởi vì biết xấu hổ nên họ luôn biết tự soi xét lại đức hạnh của mình.

Một người biết hổ thẹn thì gặp tài vật mới không tham, lâm vào khó khăn mà không bị khuất phục. Người có “liêm” có “sỉ” mới biết khiêm tốn mà thoái nhường, lựa chọn lấy hay bỏ có mức độ phù hợp. Vô luận là tu dưỡng cá nhân hay là khí tiết của dân tộc thì “sỉ” đều là “người dẫn đường” của lương tri.

Mạnh Tử cũng giảng: “Nhân bất khả vô sỉ”, ý nói rằng làm người là không thể không có “sỉ”, không thể không biết xấu hổ. “Vô tu ác chi tâm, phi nhân dã”, ý tứ là một người mà không biết hổ thẹn thì không thể được tính là người.

Chu Hy viết: “Nhân hữu sỉ, tắc năng hữu sở bất vi”, ý nói rằng một người biết hổ thẹn thì sẽ không làm những việc không nên làm. Người biết xấu hổ thì mới có đạo đức tốt, không bị hấp dẫn bởi danh và lợi. Người biết hổ thẹn mới có ý chí kiên định. Khi đứng trước được hay mất, nghĩa hay lợi, cộng đồng hay cá nhân… họ mới không bị dục vọng thao túng, thúc ép.

Học giả Lữ Khôn, triều Minh bàn rằng: “Ngũ hình bất như nhất sỉ”, tức là làm cho người dân biết xấu hổ thì còn có tác dụng hơn là năm loại hình phạt nghiêm khắc: khắc chữ, cắt mũi, chặt chân, thiến, xử chết. Giáo hóa cho người dân hiểu về “liêm sỉ” còn quan trọng hơn là dùng trọng hình. Bởi vì khi đạo đức của con người được nâng cao, họ biết việc gì nên làm việc gì không nên làm rồi, biết rõ đúng sai rồi thì có thể không cần dùng đến hình phạt nữa. Cũng bởi vì thế mà Nho gia đề cao đức hạnh, xếp giáo hóa đứng trước, hình phạt đứng sau.

Có một câu chuyện nổi tiếng về liêm sỉ của cổ nhân thế này. Vào ngày mừng thọ 60 tuổi của Bao Thanh Thiên, ông kiên quyết không nhận lễ vật mà bất kỳ ai mang đến tặng. Ông thật không ngờ người đầu tiên sai người đến chúc mừng và tặng lễ vật cho ông lại chính là Hoàng đế đương triều Tống Nhân Tông. Trên thiếp mà thái giám đem tới có ghi bốn câu thơ có ý là:

Đức cao vọng trọng nhất phẩm khanh,
Ngày đêm vất vả như Ngụy chinh.
Hôm nay Hoàng Thượng đem lễ tặng,
Cự lễ ngoài cửa lễ bất thông.

Bao Thanh Thiên sau khi đọc bốn câu thơ xong, ông liền hồi đáp bằng bốn câu thơ có ý là:

Thiết diện vô tư lòng son trung,
Làm quan tối kỵ nhắc tới công.
Vất vả vốn là trong phận sự,
Cự lễ vì khai liêm khiết phong.

Bao Thanh Thiên đã dùng thơ để cự tuyệt lễ vật, vừa thể hiện được tấm lòng liêm chính, khéo léo của mình, lại nhận được sự khen ngợi của Hoàng Thượng, cũng như sự kính trọng của quan tướng trong triều đình và muôn dân. Bởi vì làm quan “lưỡng tụ thanh phong” (hai tay áo đều không có gì ngoài gió, không thu về lợi lộc gì cho bản thân), Bao Thanh Thiên đã trở thành vị quan nổi tiếng thanh liêm trong sử sách.

An Hòa