Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh người xã Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay là xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông đỗ trạng nguyên khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1659), đời vua Lê Thần Tông.

Nguyễn Quốc Trinh
Làng Nguyệt Áng. (Ảnh từ nguoiduatin.vn)

Trạng nguyên biết chữ muộn nhất

Nguyễn Quốc Trinh sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Mồ côi từ tấm bé và không được đi học, ông phải cùng em trai sang ở nhà anh rể.

Đến năm 17 tuổi, Nguyễn Quốc Trinh vẫn không biết chữ, ông phẫn chí cùng em là Nguyễn Đình Trụ đi tìm thầy. Hai anh em cùng đến thầy đồ ở làng bên để học. Chị gái thấy anh em Nguyễn Quốc Trinh có chí học hành thì cố gắng tần tảo để có tiền nuôi em ăn học.

Là người sáng dạ nên Nguyễn Quốc Trinh học rất nhanh, văn chương dần dần cũng rất sáng.

Nguyễn Quốc Trinh là người ham học, nhưng cũng ham chơi. Có một giai thoại về ông thế này. Một lần người chị vào nhà thầy đồ thăm em nhưng không thấy Quốc Trinh đâu, đi tìm thì thấy em đang thả diều chơi ngoài đồng. Chị liền lôi em vào trình thầy.

Thầy đồ nghiêm nghị nói: “Tội anh đáng đòn. Nhân tiện có chị anh sang đây, ta cũng muốn để gia đình biết được sức học của anh. Nay thầy ra một vế đối, nếu đối được thì tha, đối không được ta sẽ đuổi về luôn.”

Rồi thầy đọc câu đối: “Mê chơi chẳng học, quên lời chị”. Nguyễn Quốc Trinh liền đối ngay: “Thi đỗ cao khoa, nức tiếng thầy”.

Câu đối khiến cả thầy lẫn chị gái đều vui vẻ.

Từ chối gian lận, khoa thi sau đỗ Trạng nguyên

Đến khoa thi năm 1656 thời vua Lê Thần Tông, Nguyễn Quốc Trinh cùng em trai đến Kinh thành dự thi.

Năm ấy khi đang làm bài thì Trinh gặp chỗ bí, nghĩ mãi không ra. Em trai ông ở lều bên cạnh có ý cho ông chép. Nhưng Quốc Trinh giữ gìn phẩm hạnh, lấy lý do rằng xưa nay chưa có ai xin chữ mà đỗ Trạng nguyên mà thẳng thắn từ chối.

Khoa thi năm ấy lấy 6 người đỗ tiến sĩ, trong đó Nguyễn Đình Trụ đỗ đầu. Nguyễn Quốc Trinh chúc mừng em mình đỗ đầu, rồi ông về quê tiếp tục học hành chờ khoa thi tới.

Ba năm sau, đến khoa thi năm 1659, Nguyễn Quốc Trinh lại tham gia, và lần này ông đỗ Trạng nguyên. Do làng Nguyệt Áng quê ông có tên nôm là Nguyệt nên dân gian gọi ông là Trạng Nguyệt.

Trạng nguyên thẳng thắn khiến triều đình kính phục

Nguyễn Quốc Trinh làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lại, rồi được thăng làm Bồi tụng (chỉ sau Tể tướng). Ông là người được chúa Trịnh Tạc tin tưởng, nhưng cũng là người dám nói những điều phải trải của Chúa trước triều.

Lúc này quyền lực Đàng Ngoài thật sự là của chúa Trịnh, vua Lê chỉ là hư vị. Chúa Trịnh Tạc muốn biết lòng người có phục hay không nên sai người làm một đài ở Thăng Long đặt tên là đài Thu Thiên.

Dân gian kể lại rằng khi đài đang được xây, Chúa cùng các quan đại thần cùng đến xem. Nhìn quy mô bề thế của Đài, chúa quay lại hỏi các đại thần xem ý thấy thế nào.

Nào ngờ Quốc Trinh nói rằng: “Khải chúa thượng, việc xây đài dựng cột, làm thế nào chẳng được, nhưng như thế này khiến lòng thiên hạ không vui đâu”. Chúa giận tái mặt hỏi lại: “Thiên hạ trăm nghìn người, mỗi người một ý, một mình ông làm sao biết được trăm nghìn bụng?”. Nguyễn Quốc Trinh bình thản đáp: “Thiên hạ là tôi đây, lòng tôi không vui thì biết lòng thiên hạ”.

Chúa không nói gì, liền về cung. Tối hôm đó trời nổi mưa gió dữ dội, sét đánh gãy mấy cột đài. Chúa cho rằng đó là điềm gở, không cho dựng tiếp nữa.

Đi sứ nhà Thanh

Năm 1667, Nguyễn Quốc Trinh được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Có một giai thoại về chuyện ông đi sứ thế này.

Khi Quốc Trinh tới nơi thì sứ thần của Cao Ly cũng đến. Hoàng đế Khang Hy muốn thử tài liền sai mang thẻ tre đến rồi nói sứ thần 2 nước viết tên 100 danh thần trong lịch sử Trung Hoa.

Trong khi sứ thần Cao Ly chăm chú mài mực viết thì Nguyễn Quốc Trinh vẫn bình thản chẳng động tay. Nhiều người có ý hối thúc thì ông chỉ cười bảo rằng “không có gì phải vội cả, tôi chỉ viết một loáng là xong ngay”.

Khi thời gian sắp hết, Nguyễn Quốc Trinh mới viết 2 câu lên thẻ tre rồi đem nộp lên. Các quan đều kinh ngạc không hiểu ông làm gì. Hoàng đế xem thẻ tre của Nguyễn Quốc Trinh thì thấy ghi như sau:

Khổng môn thất thập nhị hiền,
Vân Đài nhị thập bát tướng.

Nghĩa là:

Cửa Khổng có bảy mươi hai người hiền,
Vân Đài ghi tên hai mươi tám tướng giỏi.

Theo điển tích thì học trò nổi tiếng tài giỏi của Khổng Tử có 72 người. “Vân Đài” là Đài được xây dựng thời Hán Vũ Đế, có khắc tên 28 danh tướng triều Hán. Tổng cộng là đủ 100 danh thần

Vua Khang Hy tấm tắc khen ngợi sứ thần Đại Việt và nói rằng: “Sứ thần nước Nam rất xứng đáng là Lưỡng quốc danh thần”.

Trần Hưng