Bắc Kinh chuyển sang hợp tác với kỹ nghệ điện ảnh Mỹ để xâm nhập vào thị trường lớn nhất thế giới.

Trong số những quyền tự do dành cho công dân Hồng Kông sau khi Anh bỏ quyền kiểm soát từ năm 1997 là quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Sự tự do đó tạo nên sinh hoạt xuất bản sôi động tại đây; Hồng Kông phát hành một loạt sách, báo và tạp chí viết về mọi khía cạnh của lịch sử, chính trị và xã hội Hoa lục. Thật vậy, nếu không có những nhà xuất bản ở Hồng Kông, thế giới sẽ biết rất ít về Trung Hoa và điều đó cũng đúng với hàng ngàn người ở Hoa lục, mãi đến gần đây, mới đổ xô đến các nhà sách nổi tiếng ở Hồng Kông như Causeway Bay và People’s Recreation Community.

Hiện nay, những nhà sách này đã biến mất, cùng với gần như tất cả các nhà xuất bản độc lập của Hồng Kông. Những người can đảm đấu tranh để giữ cho chúng sống đã bị bịt miệng. Cuộc đàn áp này, cùng với nhiều vấn đề khác đã đưa 2 triệu người biểu tình xuống đường phố Hồng Kông, phản ảnh những nỗ lực tích cực của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nhằm đưa thuộc địa cũ của Anh vào khuôn phép của sắc lệnh năm 2017 do Chủ tịch Tập Cận Bình ban hành. Tất cả mọi hình thức truyền thông phải hợp nhất và đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Số phận của các nhà sách Hồng Kông đã gây ra sự phản đối trên toàn thế giới; những hãng thông tấn độc lập và những người ủng hộ tự do ngôn luận lên tiếng cảnh cáo chế độ toàn trị có thể trở lại với Hồng Kông. Yaqiu Wang của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền trong một bài báo gần đây trên tờ New York Times đã tuyên bố:

“Đó là một cuộc tấn công vào sinh hoạt xuất bản ở tất cả mọi mặt.”

Cuộc phản đối này hoàn toàn hợp lý. Nhưng là một người quan sát lâu năm về một phương tiện truyền thông khác cũng đang mất vào tay của cơ quan kiểm duyệt của ĐCSTQ, tôi phải tự hỏi:

Tại sao không có sự phản đối tương tự về cuộc tấn công của Trung Quốc vào ngành kỹ nghệ điện ảnh, không chỉ ở Hồng Kông mà còn ở Mỹ?

Trong những năm qua, chính phủ Hoa Kỳ thường ca ngợi và bảo vệ các bộ phim Hollywood như một thành tố quan trọng của quyền lực mềm của Mỹ, đó là một phương tiện truyền thông mà không cần dùng đến loại tuyên truyền trắng trợn, để truyền đạt lý tưởng Mỹ, gồm cả tự do ngôn luận, cho công chúng trên toàn thế giới. Nhưng Hollywood từ lâu đã từ bỏ vai trò đó. Thật vậy, kể từ khi Thế chiến II kết thúc, các hãng phim đã không còn hợp tác với Washington để cổ xúy lý tưởng quốc gia. Thay vào đó, mối quan hệ ngày nay hoàn toàn là thương mại, cho cả hai bên. Ví dụ, Hollywood thường xuyên yêu cầu có sự giúp đỡ của Washington trong việc chống sự vi phạm bản quyền và xâm nhập thị trường nước ngoài. Nhưng ngay cả giúp đỡ Hollywood như vậy, Washington vẫn không yêu cầu họ kiềm chế những miêu tả tiêu cực hơn về cuộc sống, chính trị và ý định toàn cầu của nước Mỹ. (Ngoại lệ là Bộ Quốc phòng Mỹ, khăng khăng đòi phê duyệt kịch bản của mọi bộ phim được họ hỗ trợ sản xuất.)

Mọi thứ đều khác ở Trung Quốc. Ở đất nước đang trở thành thị trường điện ảnh quan trọng nhất và lớn nhất thế giới, đảng cộng sản đương quyền không có sự kiềm chế nào như vậy. Ngược lại, Bắc Kinh có một ý tưởng rất rõ ràng về cách kỹ nghệ điện ảnh nên vận hành ra sao; cụ thể điện ảnh là một phần thiết yếu trong nỗ lực tạo ra dư luận phù hợp với thế giới quan và ý thức hệ của ĐCSTQ. Để được thế, Bắc Kinh đã dùng nhu cầu đầu tư vô hạn của Hollywood, và cao vọng của họ là xâm nhập vào một thị trường tiềm năng với 1,4 tỷ khán giả, để đưa Hollywood vào quỹ đạo của Trung Quốc.

Trích bích chương quảng cáo “Top Gun: Maverick” (phải) không có cờ Nhật Bản và cờ Cộng hòa Trung Hoa. Nguồn: PARAMOUNT

Mùa hè này, một số người theo dõi Hollywood đã phản đối khi đoạn giới thiệu phim “Top Gun: Maverick” sắp ra mắt, được công ty Trung Quốc Tencent tài trợ một phần, đã bỏ hai lá cờ Nhật Bản và Đài Loan trên lưng áo khoác của Tom Cruise. Nhưng trong 20 năm qua, hầu hết các câu chuyện về mối quan hệ giữa Hollywood và Trung Quốc, ví dụ, những bản tin gần đây về ảnh hưởng tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đến lợi nhuận của Hollywood đã bị lệch nhiều về những nỗ lực tích cực của Hollywood để xâm nhập vào thị trường khổng lồ ở Hoa lục hơn là nói về việc họ chấp nhận một cách thụ động sự kiểm duyệt ngày càng gắt gao của Trung Quốc.

Sự kiểm duyệt đó ngày càng tăng vì, theo đúng sắc lệnh của Chủ tịch Tập Cận Bình, tất cả phim ảnh phát hành tại Trung Quốc nay không chỉ bị Bộ Tuyên truyền Trung ương xét mà còn (tùy thuộc vào chủ đề của nó) bị Bộ An ninh Nhà nước, Ủy ban Sắc tộc , Ủy ban Y tế Quốc gia và Kế hoạch hóa Gia đình, Bộ Công an, Cục Tôn giáo, Bộ Giáo dục, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, và nhiều cơ chế quan liêu khác soi mói.

Hollywood có vô số kinh nghiệm về kiểm duyệt. Năm 1915, trước khi những hãng phim mới thành lập chuyển đến Los Angeles, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã xác định phương tiện truyền thông mới là “kinh doanh, thuần túy và đơn giản.”

Quyết định đó đưa phim ảnh vào vòng kiểm duyệt của chính phủ, khiến hiệp hội thương mại mới thành lập, Nhà sản xuất và phân phối phim của Mỹ, phải tạo ra Luật Sản xuất định hình nội dung của phim ảnh từ những năm 1930 cho đến khi hệ thống hiện tại thay thế những điều lệ này vào thập niên 60. Mãi đến năm 1952, Tối cao Pháp viện Mỹ mới đặt phim ảnh vào vòng bảo vệ của Tu chính án thứ Nhất.

Ngày nay, Hollywood là ngành kỹ nghệ điện ảnh tự do nhất trên trái đất, nhưng chỉ hoàn toàn tận hưởng sự tự do đó ở Hoa Kỳ. Ở hầu hết các quốc gia khác, từ Vương quốc Anh đến Ả-rập Saudi, một cơ quan kiểm duyệt của chính phủ được gọi trệch đi là “hội đồng phân loại phim” sẽ phê duyệt tất cả mọi bộ phim của nước ngoài và của ngành điện ảnh trong nước, trước khi chúng được chiếu tại rạp. Do đó, Hollywood đã có kinh nghiệm đàm phán với những cơ quan kiểm duyệt nước ngoài từ khi họ xuất cảng phim ảnh cách đây khoảng 100 năm.

Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó, sự thỏa hiệp của Hollywood để đưa phim vào thị trường nước ngoài không bị coi là có vấn đề, ngay cả đối với những người phản đối. Thường đối với thị trường có lợi nhuận cao hơn, nơi mà Hollywood quan tâm, đều ở các nước dân chủ, nơi những hội đồng phân loại phim làm việc theo luật pháp. Những thay đổi mà họ yêu cầu, nếu có, thường khiêm tốn. Ngược lại, ở các quốc gia độc tài, việc kiểm duyệt có khuynh hướng tham nhũng, khuất tất và chịu đủ mọi loại áp lực chính trị tiềm ẩn. Nhưng vì những thị trường này thường không sinh lợi nên Hollywood hiếm khi bận tâm đến chúng. Một người tuyển mộ tài năng ở Hollywood từng nhận xét với tôi, “Ai thèm quan tâm đến Bắc Hàn? Họ không mua phim của chúng tôi.”

Trung Quốc đã phá vỡ khuôn mẫu này. Cùng lúc là thị trường kiểm duyệt gắt gao nhất và là thị trường có lợi nhuận cao nhất thế giới, Trung Quốc đã buộc Hollywood khấu đầu trước một bộ máy kiểm duyệt của chính quyền có tiêu chuẩn mờ ám và khó đoán, không như hầu hết các nước dân chủ đều rõ ràng và nhất quán. Theo một bản hướng dẫn năm 2016 cho các nhà sản xuất phim khao khát làm việc tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:

“Trung Quốc và chính phủ độc đảng hiện đang thiếu… những hướng dẫn và tiêu chuẩn rõ ràng. Vì vậy, thật khó để biết liệu một đề án có thể rơi vào tay những người kiểm duyệt hay không, mà sự kỳ quái của họ dường như phần lớn được cấp cao hơn trong tổ chức ĐCSTQ quyết định – một đảng coi việc phóng chiếu hình ảnh của một xã hội ổn định là tối quan trọng để duy trì quyền lực của mình.”

Về căn bản, hai bên trong mối quan hệ Hollywood-Trung Quốc có những ưu tiên khác nhau. Chắc chắn, cả hai đều quan tâm đến lợi nhuận. Nhưng đối với Trung Quốc, lợi nhuận chỉ là một mục tiêu. Một quan tâm khác, quan trọng hơn là gầy dựng đủ tài năng và chuyên môn theo phong cách Hollywood để xây dựng một ngành kỹ nghệ giải trí Trung Quốc đẳng cấp thế giới hầu có thể cạnh tranh thành công với Hollywood ở thị trường toàn cầu và mở rộng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trên toàn thế giới.

Một lần nữa, Hollywood đã tập trung hẹp hơn nhiều vào kinh doanh. Và sự tập trung đó đã được củng cố khi Hollywood kiên quyết chống lại những nỗ lực của các quốc gia khác khi họ áp đặt chủ nghĩa bảo vệ văn hóa. Phải mất nhiều thập kỷ, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ mới thay đổi vị trí pháp luật của phim ảnh từ “doanh nghiệp, thuần túy và đơn giản” thành “biểu hiện văn hóa” xứng đáng được Tu chính án thứ Nhất bảo vệ.

Do đó, thật trớ trêu, khi phải đối phó với những chính phủ nước ngoài vận động Tổ chức Thương mại Thế giới để kiềm chế sự thống trị của Hollywood đối với thị trường phim ảnh của họ, phản ứng tiêu chuẩn của người Mỹ lại cho rằng phim là một mặt hàng giống như bất kỳ măt hàng nào khác, và định nghĩa phim ảnh là biểu hiện văn hóa là vi phạm nguyên tắc thiêng liêng của thương mại tự do.

Đầu năm 2017, chiến lược của Bắc Kinh hợp tác với Hollywood để đưa ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa lên đến đỉnh điểm là việc phát hành hợp tác sản xuất Trung-Mỹ lớn nhất từ ​​trước đến nay: một tác phẩm đặc biệt trị giá 150 triệu đô-la có tên “The Great Wall” (Vạn Lý Trường Thành), với Matt Damon thủ vai chính và sự có mặt của Trương Nghệ Mưu, đạo diễn quan trọng nhất của Trung Quốc. NBCUniversal và ba đối tác Trung Quốc đồng sản xuất cuốn phim tại một phim trường hiện đại ở Thanh Đảo. “The Great Wall” đang ở giai đoạn thứ ba trong quá trình Hollywood chuyển đổi từ vị trí một cơ sở xuất cảng phim do Mỹ sản xuất sang Trung Quốc, đến một đối tác đồng sản xuất phim với Trung Quốc ở Mỹ, rồi hợp tác sản xuất phim với Trung Quốc ở Hoa lục. Ở mỗi giai đoạn, giới sản xuất điện ảnh Mỹ đã nhận được một phần doanh thu lớn hơn và chấp nhận một mức độ kiểm soát cao hơn của chính quyền Trung Quốc.

Bước trượt dài của Hollywood về tự do ngôn luận
“The Great Wall”: một thất bại lớn. Nguồn: NBCUniversal

Nếu “The Great Wall” thành công lớn như mọi người đang mong đợi, quá trình chuyển đổi của Hollywood có thể tiếp tục. Nhưng “The Great Wall” không thành công. Đó là một thất bại khổng lồ ở Trung Quốc, Mỹ và mọi nơi khác. Kể từ đó, mối quan hệ đã có vị chua chát. Trung Quốc rút lui khỏi các hợp tác lớn với các hãng phim Hoa Kỳ, đã có sự di cư của nhiều cá nhân trong tầng lớp chuyên gia điện ảnh, không chỉ gồm các diễn viên mà còn có hàng trăm nhân viên phụ thuộc (chuyên viên thu hình, người soạn nhạc, giám sát hiệu ứng hình ảnh, chuyên viên điều hợp những pha hành động, và tương tự) vào ngành điện ảnh Trung Quốc, có nghĩa là, vào bộ máy tuyên truyền của Hoa lục.

Tuyên truyền ở đây, tôi không muốn nói đến những truyện phim có nữ võ hiệp kỳ tình gợi cảm, hay những bộ phim hoạt hình với gấu trúc dễ thương và những nhà hiền triết râu trắng đứng dưới tàn cây mận đang nở rộ. Ý tôi muốn nói đến những pha hành động đẫm máu, cực kỳ bạo lực, trong đó những người lính Trung Quốc anh hùng, chính trực, đánh bại kẻ thù gồm cả những người Mỹ hèn nhát, đồi trụy, ở những nơi xa lạ rõ ràng cần phải được tư tưởng Tập Cận Bình soi sáng.

Ví dụ điển hình là phim “Wolf Warrior 2” (2017), một cơn sóng thần không ngừng nghỉ của các cuộc đấu súng, bom nổ, đánh nhau tay không và một cuộc rượt đuổi bằng xe tăng ngoạn mục, nhằm nhắn gởi một thông điệp duy nhất: Trung Quốc đang mang lại nền an ninh, thịnh vượng, và chăm sóc sức khỏe hiện đại cho Châu Phi, trong khi Hoa Kỳ chỉ mang đến sự khốn khổ. Phim đã phá vỡ mọi kỷ lục vé bán được ở Trung Quốc và vẫn ở mức 5,6 tỷ đô-la; đây là phim có doanh thu cao nhất từ ​​trước đến nay. Và trong khi giới truyền thông nhà nước ca ngợi “Wolf Warrior” vì nó đã đánh bại Hollywood ngay sân sau của họ, Trung Quốc cũng đã tảng lờ, bỏ qua không nói đến phim hành động này do đạo diễn kỳ cựu của Hollywood Sam Hargrave biên đạo.

Hồng Kông đã có một vụ xuất huyết não tương tự. Thật vậy, hai bộ phim đình đám khác cùng thể loại hành động là “Hành quân Mekong” (2016) và “Chiến dịch Biển Đỏ” (2018), do Dante Lam đạo diễn; Lam là một trong một số tài năng của Hồng Kông, những người đã trở thành một con ốc trong bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh. Jessica Kiang của trang bình luận phim Variety mô tả những bộ phim này là “những trò hề nghịch ngợm không biết xấu hổ”, chuyển tải thông điệp cho rằng những người lính Hoa lục là hiện thân của “mọi đức tính ngây thơ, dũng cảm, tình huynh đệ, hy sinh và cao thượng, trong khi bên ngoài biên giới của Trung Quốc, tất cả là tham nhũng, hèn nhát, đồi trụy, và vô năng.”

Hai cuộn phim này cũng chống Mỹ rõ ràng, là một tín hiệu cho giới chuyên nghiệp Hollywood thấy rằng lợi ích của họ cũng như của những người Mỹ không phù hợp với lợi ích của Bắc Kinh.

Một số người ở Hollywood hiểu những gì đang xảy ra và rất muốn ngăn chặn Trung Quốc phá vỡ sự tự do đã dầy công tranh đấu mới có trong ngành kỹ nghệ của họ. Nhưng thật không may, địa phận làm phim màu xanh đậm rất ác cảm với việc làm bất cứ điều gì đồng ý, hoặc dường như đồng ý, với chương trình nghị sự chính trị của Tổng thống Donald Trump. Một trở ngại khác là sự lo âu nói chung, không chỉ về triển vọng tương lai ở Trung Quốc, mà còn về một lượng khán giả đang giảm đi và chia rẽ ở trong nước, bất chấp tất cả, vẫn còn là nền tảng của Hollywood.

Với sự chuyển đổi kỹ thuật tuyệt vời trong bối cảnh của thế kỷ 21, tất cả những mối đe dọa đối với các bộ phim và sách, nghe có thể như lỗi thời. Khi việc đi xem phim ở rạp và việc đọc sách ngày càng bị thiệt thòi vì ảnh hưởng của những phương tiện truyền thông xã hội và phát hình trực tuyến, có thực sự là ĐCSTQ đang vắt kiệt sức sống của những nhà xuất bản Hồng Kông và những cơ sở làm phim Mỹ hay không? Tất nhiên là có, bởi vì sức ép tương tự đang được áp dụng trên những phương tiện kỹ thuật số, những phương tiện mà cách đây không lâu đã được tin là một lực lượng mạnh mẽ để thể hiện tự do ngôn luận.

Nhìn lại, rõ ràng rằng Hollywood đã có hành động đúng khi đẩy mạnh việc phân loại lại sản phẩm của họ như một hình thức nghệ thuật xứng đáng để được Tu chính án thứ Nhất bảo vệ. Khi ôm chầm lấy định nghĩa lạc hậu “kinh doanh, thuần túy và đơn giản”, Hollywood đã sản xuất một loạt những bộ phim bom tấn đáng quên kéo dài hàng chục năm với các tựa phim vắt sữa kiểu “Bò sữa”, “Bò sữa 2” và rồi lại “Bò sữa”. Nhưng Hollywood cũng đã tạo ra các bộ phim “12 Angry Men”, “On the Waterfront”, “In the Heat of the Night”, và “Erin Brockovich”, cho thấy khả năng đối phó với các vấn đề và bất công trên khắp thế giới của công dân và những tổ chức Mỹ. Khi tự do bị đe dọa ở khắp mọi nơi ngày nay, thật đáng thất vọng khi Trung Quốc dường như hiểu được sức mạnh văn hóa và địa chính trị của phim hơn ngành kỹ nghệ sản xuất những bộ phim tuyệt vời này và những bộ phim khác tương tự như vậy.

Martha Bayles
Trà Mi biên dịch

Bài viết này là một phần của “Cuộc chiến ngôn luận”, một dự án được Quỹ Charles Koch, Ủy ban Phóng viên vì tự do báo chí và Viện Fetzer hỗ trợ.

Tác giả: Martha Bayles dạy về nhân văn tại Boston College. Cuốn sách gần đây nhất của bà là “Through a Screen Darkly: Popular Culture, Public Diplomacy, and America’s Image Abroad”.

© 2019 DCVOnline

Đăng lại có chỉnh sửa từ DCVOnline (DCVOnline.net)

“Mục đích chính của DCVOnline, với trách nhiệm truyền thông độc lập, là cổ xúy dân chủ, nhân quyền và phát triển bền vững cho Việt Nam.”

Xem thêm: