Hiện nay ở làng Tó, xã Tả Thanh Oai ngoại thành Hà Nội còn ngôi đền đẹp thờ bà Đô Hồ Phi Nhân (vợ vua Lê Đại Hành) có công tham gia vào cuộc chiến đánh giặc Tống khi chúng xâm lược nước ta lần thứ nhất năm 980-981.

Lê Đại Hành

Giới thiệu qua đình miếu Hoa Xá

Bà Đô Hồ được thờ ở đình Hoa Xá thuộc xã Tả Thanh Oai. Bản Ngọc phả cũng được cất giữ ở đó. Đình Hoa Xá còn gọi là miếu Bà Chúa Hến (婆主) hoặc có người gọi là đình Thành Hoàng làng Tó. Sự thực thì miếu có từ xưa, sau mới có đình.

Địa danh Hoa Xá ra đời do nguyên ủy sự tích gì, nay ít người biết. Cũng có người đoán, “đặt ra tên Hoa Xá để sánh với tên Hoa Lư, nơi cung cấm của các Hoàng hậu vua Lê tại tỉnh Ninh Bình”. Nhưng có người ngờ từ Hoa Xá đã có trước thế kỷ X.

Đình Hoa Xá đứng chênh vênh bên bờ sông Nhuệ, kiến trúc không nguy nga, đồ sộ bằng đền thờ vua Đinh, vua Lê ở Hoa Lư, Ninh Bình. Nó nhỏ gọn, nhưng xinh xắn, trang nhã.

Trong đình Hoa Xá có nhiều hoành phi, câu đối của nhiều văn sĩ thuộc nhiều đời, câu nào văn cũng hay, nội dung biểu dương tinh thần yêu nước, khí thế quyết đánh giặc Tống xâm lược, nên đã được nhiều nhà nghiên cứu đến tham quan ghi chép về làm tư liệu.

Từ ngoài đi vào đình Hoa Xá, ngay ở cửa Tam quan đã có nhiều phù điêu, bích họa tuyệt đẹp và nhiều câu đối có giá trị.

Một cặp câu đối ở mặt ngoài hai cột trụ biểu:

Tiền Lý hậu Đinh lưu thánh tích:
Khâm Tô đới Nhuệ tráng thần cư.

Tạm dịch:

Trước Lý sau Đinh truyền dấu thánh;
Vành Tô giải Nhuệ đẹp đền thần.

Phía trong cửa “Tam quan” lại có cặp câu đối ngoảnh vào sân đình:

Chính thống kế Đinh triều, cố quốc sơn hà vĩnh điện;
Miếu đình lâm Nhuệ tả, thiên nhan chỉ xích bất vi.

Tạm dịch:

Ngôi chính thống nối triều Đinh, giữ nước vững bền sông núi:
Dựng miếu đình bên sông Nhuệ, thờ vua chẳng cách tấc gang.

Từ cửa chính Tam quan, muốn vào đình ta phải bước qua sân đình và leo lên một tam cấp ghép bằng đá. Hai bên tam cấp có hai con sấu đá hiền lành, ngẩng mặt nhìn vào khách như hoan hỉ chào đón.

Giữa sân có hai con ngựa đá, lộ nét khắc chạm rất thần tình. Đây là đôi ngựa của văn thần Ngô Thì Nhậm, mưu sĩ của vua Quang Trung, thuê thợ khắc, dâng đặt thờ bà Đô Hồ và vua Lê Đại Hành vào năm Cảnh Thịnh thứ 6 (1798) để tưởng niệm công tích của hai vị thành hoàng làng mình. Ngựa đá cao 1,25m tính từ đầu gối chân trước đến mút đuôi ngựa đá. Yên ngựa cân đối, hai tà áo yên phủ hai bên hông ngựa có khắc thân rồng ẩn hiện trong mây. Cổ ngựa đeo vòng chuông nhạc, mỗi vòng 5 quả chuông tròn, riêng quả chuông giữa thì to dài và đã khắc tên hiệu ngựa vào đó. Tên con ngựa bên tay phải (bên hữu) gọi là “Bổng thần” (俸宸) tên con ngựa bên trái (bên tả) gọi là “Ngự nhật” (馭日). Dáng dấp ngựa thon, ngắn, thanh thoát.

Bước lên đình, tức Lễ đường có 5 gian rộng rãi, kiến trúc vững chắc: có biển đề thơ và nhiều hoành phi, câu đối. Qua lễ đường, hay đại bái, lại qua một ngôi nhà dọc, tục gọi chuôi vồ, thì đến miếu điện thờ bà Đô Hồ.

Giữa điện đặt long ngai ghi bài vị bà Đô Hồ và vua Lê Đại Hành. Hai vị thành hoàng này được phản ánh qua nội dung đôi câu đối treo ở đình, tạm dịch:

Xưng đế cõi thiên nam, phá Tống bình Chiêm, ngựa sắt mấy phen lừng lẫy.
Làm thần bên giang tả, dòng Tô mạch Nhuệ, sóng vàng một giải long lanh.

Cách đền một quãng đến Minh ngự lâu: Theo Lư sử thì Minh ngự lâu là vườn cũ của bà Đô Hồ, về sau xây thành cung phủ để bà ở. Từ đó theo dòng Cừ Hoàng đi tới cánh đồng Triều. Đồng Triều gồm có ruộng đất do vua Lê Đại Hành và dân làng Tó chia cho bà Đô Hồ để cày cấy sinh sống. Khi Bà Đô Hồ chết, thì Minh ngự lâu thành nơi thờ Bà và một số ruộng đất trở thành ruộng tế (ruộng lấy hoa lợi chi phí vào việc thờ Bà).

Kiến trúc tòa Minh ngự lâu rất đẹp, văn, thơ, câu đối ở đây vừa phản ánh công tích vừa ca ngợi mối tình của bà. Xin dẫn một câu:

Thiên phúc tuần du, nguyên phi như Cổ Công xuất Thủy Hử;
Nhuệ giang cảnh trí, kim khước ức Chu Nam vịnh Hà Châu.

Tạm dịch:

Cuộc tuần du thời Thiên phúc thắm tình, tựa Đản Phụ(1) bên bờ Thủy Hử
Ngắm cảnh trí sông Nhuệ giang gợi nhớ, thơ Chu Nam vịnh bãi Hà Châu.

Câu “Ức Chu Nam vịnh Hà Châu” gợi lên hình tượng một thôn nữ có tài sắc, đức hạnh trở thành vương phi, đã được phản ánh trong Kinh Thi. Mở đầu Kinh Thi có bài Thư cưu thuộc phần Chu Nam phong có câu:

Quan quan thư cưu,
tại Hà chi châu…

Ở đây cuộc tình duyên giữa bà Đô Hồ và vua Lê Đại Hành lại có ý nghĩa hơn cả tình yêu trong Kinh Thi. Vì tình yêu ở đây bắt nguồn từ sự cảm phục nhau trước hành động tham gia cuộc chống Tống bảo vệ độc lập dân tộc.

Ở phần nghi lễ thờ Bà cũng liên quan nhiều sử liệu đặc sắc. Lễ tế chính bà Đô Hồ vào ngày rằm tháng giêng.

Dù ai đi Bắc đi Nam
Nhớ về hội Tó ngày rằm tháng giêng

Kế hoạch vào đám, thường được triển khai từ hôm mồng 4 tháng giêng âm lịch, qua mấy khâu: tập phu rước kiệu, dọn cỏ dọc đường, dựng 3 gian rạp hát, may sắm áo ngự v.v…

Vào lễ chính phải rước kiệu đưa bài vị từ đình Hoa Xá đến Minh ngự lâu để tắm cho thần, gọi là lễ “Mộc dục”. Nội dung lễ phản ánh sự tích vua Lê ban áo gấm xiêm ngự, bảo Bà tắm gội thay y phục để cùng về Kinh đô Hoa Lư.

Đáng chú ý phần lễ chính ở tục “Soạn cỗ giỗ” thờ bà Đô Hồ. Lễ rằm tháng giêng soạn mâm đặt trước bài vị vua Lê Đại Hành gồm 3 thứ: bánh chưng, bánh dày, chè lam. Nhưng mâm soạn đặt thờ trước bài vị bà Đô Hồ tức bà chúa Hến thì rất đặc biệt. Nội dung các món ăn đã phản ảnh trung thực cuộc sống giản dị ở thời thơ ấu của Bà. Mâm cơm giỗ có 5 món: 1 liễn cơm tẻ, 1 bát canh hến, 1 bát canh đậu, 1 đĩa rau lang luộc, 1 đĩa muối vừng.

Các phần lược thuật trên đây hỗ trợ cùng bản ngọc phả tôi giới thiệu, chắc chắn sẽ giúp ích cho một số bạn đọc quan tâm đến sử học, văn học nghệ thuật và lễ hội. Đặc biệt về việc nghiên cứu Thăng Long và thời Tiền Thăng Long.

Bản ngọc phả

Bản ngọc phả viết bằng chữ Hán, ghi tên ngoài bìa là Hoa Xá thành hoàng miếu phả lục. Khác với tên bài tựa ghi là đình. Chữ viết hàng dọc từ phải sang trái.

[…]

Dịch nghĩa:

a. Lời tựa bản ngọc phả đình Hoa Xá

Xét dấu vết linh thiêng của các bậc thánh đế thời xưa, thường thấy hiển hiện ở những nơi động thiên phúc địa, nên những việc trên dưới nghìn năm còn có thể bàn đến cội nguồn của nó được. Ôi, người mà giáo hóa được mọi người thì gọi là bậc thánh, sự hóa của thánh mà (người đời) không thể hiểu nổi thì đó là thần.

Xét linh tích đình Hoa Xá thuộc ấp bên tả sông Nhuệ, đất do sông Tô Lịch dẫn mạch, miếu do sông Nhuệ đắp nền. Sách xưa gọi là: “Đất mạch rồng dóng thước ngọc, sông nước vạch dây đo, bên tả bên hữu đối xứng nhau(2) ngôi chủ ngôi khách cùng tiến(3) khiến cho dòng trâm anh xuất sắc, đường khoa mục nối tiếp nhau”. Nên ấp ta từ xưa đã sinh ra nhiều người tài giỏi.

Xét theo ngọc phả đình Hoa Xá, thì ấp ta từ triều Đinh, triều Lê đã được thánh qua thần giáng, linh tích đến nay vẫn còn, dân ấp hàng năm tế tự hai vị thành hoàng. ấy là vị thánh quân và vị thánh phi của ta. Đế quân từng có vũ công đánh đông dẹp bắc, Thánh phi có đức nhân từ, xứng là quốc mẫu. Ban đầu đức Thánh phi phát tích ở Hoa Xá, về sau duyên trời đưa đẩy đến ven sông Nhuệ. Nơi sắc đẹp của Bà làm cá chìm đáy nước nay còn dấu cũ, làm nhạn sa lưng trời(4) như vén mây cho thấy thiên nhan(5). Bà thuộc hàng quốc sắc, tính rất hiếu thuần, nhân cách hợp ý trời; đạo xây thể cốt, tiên đúc phong tư, cho nên lấy chữ Đô Hồ và chữ Uyển Nhàn(6) làm mĩ hiệu của Bà.

Bà lúc nhỏ nhà nghèo, sớm lo mò hến dưới sông, tối phải đội củi dọc đường. Lúc lớn lên lấy chồng, việc nhà ra tay mẫn cán, việc nước như một hiền thần; cùng Lê đế lo bình Chiêm phá Tống, mẫu mực đoan trang cả trong sáu cung; từng nổi tiếng thơm trên đất Việt, còn lưu chiến tích khắp non sông. Tài cán ấy do biển núi đúc nên, đức hạnh ấy do suối sông tạo dựng. Bà khi mất rất anh linh, như khi sống thường ngay thẳng, cho nên hương lửa muôn muôn năm vẫn còn, sự tích muôn muôn năm ghi trong phả lục. Nay tựa!

Ông người họ Lê, Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, chức Lễ bộ Tả thị lang, tước Thanh Xuyên bá, kính cẩn đề tựa.

b. Phả lục miếu thờ thánh phi của hoàng đế họ Lê tại Hoa Xá

(Sắc phong Thượng đẳng thần, ghi sổ ở bộ Cấn chi Khảm)

Nước Việt ta xưa đời Hùng Lạc gây móng dựng nền, lấy sao Đẩu sao Ngựu chia cõi. Đất Phong Châu thắng địa dựng Kinh đô; núi Nghĩa Lĩnh hình thế kiên cường, tu sửa miếu điện. Cha truyền con nối, hơn hai ngàn năm, văn hiến rõ rệt, các anh hùng nối tiếp xuất hiện.

Đến cuối đời Đinh, vào niên hiệu Thiên Phúc triều vua Lê Đại Hành, có tên Tri châu Châu Ung nước Tống là viên Thái thường bác sĩ Hầu Nhân Bảo dâng sách lược xâm chiếm phương Nam, vua Tống nghe lời, muốn thôn tính nước ta, liền sai các tướng mang hơn ba vạn quân Kinh, Hồ sang thình lình tập kích. Lúc bấy giờ, người Lạng Châu thấy quân nhà Tống sắp sang, dâng trạng tâu về triều. Bà Đinh Thái hậu sai ông Lê Hoàn chọn quân dũng sĩ đi đánh; lại cử một người ở Nam Sách là ông Phạm Cự Lượng làm Bình Tống đại tướng quân. Ông Cự Lượng cùng các tướng sĩ đều nghĩ rằng: “Muốn lập một chút công, ắt trước phải chọn người chủ sự”, bèn suy tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi thiên tử. Hoàng đế Lê Đại Hành lên ngôi, kinh đô vẫn đóng ở Hoa Lư, lập kỷ nguyên Thiên Phúc, rồi sai quân lính, dân chúng đẵn cọc gỗ cắm ngăn sông. Vua tự làm tướng chỉ huy đánh giặc Tống. Tháng mười năm ấy vua ra quân, có sai người đi sứ sang nước Tống để làm kế hoãn binh. Đến tháng ba mùa xuân (năm sau), Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đến Lạng Sơn(7) Trần Khâm Tộ đến Tây kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng, các cánh quân thủy bộ đều xâm nhập vào bờ cõi nước ta, vua đốc suất các tướng ra đánh, quân Tống bị thua.

Lại nói: lúc bấy giờ vua Lê Đại Hành thường đốc thúc quân lính theo dòng sông Nhuệ tiến lên phía bắc(8). Nhân dân ở nhiều ấp dọc hai bờ sông đã theo vua đánh giặc Tống. Một hôm vua Lê dừng quân ở ấp Hoa Xá phía tả ngạn thuộc xã Thanh Oai để thu thập binh lương. Đến trưa, vua trông thấy một thôn nữ trong số người chuyển lương, đội nón lá, mặc áo thô, mắt sáng mày đẹp, vẻ mặt như ngọc, miệng cười tươi như hoa, đang cúi vốc nước sông rửa chân tay, dường như có đám mây năm sắc che chở trên đầu. Vua cho rằng đó là một cô gái khác thường, trong lòng xúc động nhưng bên ngoài không dám thổ lộ.

Ít lâu sau, vua Lê Đại Hành đánh tan giặc Tống ở sông Đổ Lỗ(9), thiên hạ thái bình, khải hoàn về kinh đô Hoa Lư. Vua mở tiệc lớn, bình công, thưởng những người vất vả góp sức. Các đình thần dâng tặng tôn hiệu cho vua là: “Minh càn ứng vận Thần vũ Thăng bình Chí nhân Quảng hiếu Đại Hành Hoàng đế”(10). Vua bèn chọn ngày ngự giá bắc tuần, thăm hỏi dân làng. Vua về đến ấp Hoa Xá bên giang tả, triệu tập già trẻ trong ấp cùng đến dự yến. Vua cho mời nàng Đô Hồ tới, ban cho quần gấm áo ngự, phong làm quí phi. Sai Bà tắm gội(11) thay quần áo theo xa giá cùng vua về Kinh. Lúc đó, cha mẹ tộc thuộc và dân ấp đều vui mừng lấy làm vẻ vang. Vua lại cấp cho ruộng đất, tiền vàng để Bà đóng thuyền rồng bơi sông và lập cung điện tại nhà ở cũ, gọi là “Đô Hồ phi cung”. Tương truyền từ đó, Thánh đế và Thánh phi ngày thêm yêu nhau như đàn cầm đàn sắt, như chim phượng chim loan, rồi sinh được một nàng công chúa, yểu điệu, đoan trang, nhưng vì sao thiên đế giáng sinh, nên đến mười hai tuổi đã bị bệnh mà chết. Lúc mới sinh công chúa, bà Thánh phi nhờ bà họ Ngô là phu nhân của ông Trần Phổ Hóa nuôi dưỡng bú mớm. Suốt mười hai năm liền, bà này có nhiều công khó nhọc, nên được phong là “Thượng ban nhũ mẫu”.

Đến năm Ất Tỵ niên hiệu ứng Thiên(12) thứ mười hai (tức năm thứ hai niên hiệu Cảnh Đức nhà Tống) mùa xuân, tháng ba, ngày mồng tám, vua Đại Hành mất ở điện Trường Xuân, chôn ở lăng châu Trường Yên, nhiều nơi đã lập đền thờ. Thời ấy ở xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, dân ấp Hoa Xá bên tả sông Nhuệ cũng lập đền thờ vua để nhớ ơn đức giúp dân, ghi công đánh tan giặc Tống. Đất ấy, sông ấy mãi mãi còn truyền chiến tích, ngày sinh ngày mất của vua được đời đời hương lửa. Vậy dân ấp cung kính phụng thờ vua, làm Đệ nhất bản cảnh thành hoàng để được ngài phù hộ.

Đến khi bà Thánh phi mất, dân ấp cũng quanh năm phụng thờ. Tại nơi ngôi nhà cũ dựng ngự lâu, sửa phi cung làm thành miếu điện gọi là miếu điện thờ Thánh đế, Thánh phi. Phía trước miếu có sông Nhuệ làm án, phía sau tựa núi Tam Thai làm gối, hàng năm dân ấp tế lễ, đời đời được sắc phong. Dân ấp phụng kì đảo hai vị thành hoàng ở miếu hiệu là:

– Minh càn ứng vận Thần vũ Thăng bình Chí nhân Quảng hiếu Đại Hành Hoàng đế – Ngọc bệ hạ!

Và:

– Nhuận trạch Hoằng phu Bác lợi Nhàn Uyển Đô Hồ phi nhân – Kim điện hạ!

Mời phối hưởng có vị “Lê triều phò thánh giá, phạt Tống hữu đại công, Dũng Mãnh tướng quân linh thần – vị tiền”.

Dũng Mãnh tướng quân có đền thờ chính ở giáp Phúc Lâm, do dân giáp thờ phụng. Nay còn một vùng cây cối rậm, tương truyền là nơi ngày xưa tướng quân đóng quân tại đó.

Sau khi đức Thánh phi mất, có nhiều linh nghiệm hiển ứng, nên trải các triều đại đều có sắc phong. Tục truyền đời nhà Trần có giặc Nguyên sang xâm lược, thành Thăng Long bị vây, vua Trần sai quan về cầu đảo tại miếu, Thần đã hiển linh ngầm giúp, nên đánh lui được giặc Nguyên. Đến thời vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa đánh giặc Minh, thần đã ngầm giúp các tướng đại phá được giặc Minh ở Đông Đô, ở Ninh Kiều, Chúc Động, máu chảy đầy sông. Sau ngày kháng chiến, vua Lê gia phong mỹ tự, sắc chỉ sai dân ấp sửa sang miếu điện để thờ phụng.

Hồng Phúc năm đầu, tháng trọng xuân(13) ngày tốt. Hàn lâm Lễ bộ, Đông các đại học sĩ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ sáu, tháng trọng thu, ngày tốt(14). Quản giám bách thần tri điện, Hùng Lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền tuân sao theo bản cũ.

Trần Bá Chí

Đăng lại từ bài “Bản ngọc phả về bà vợ Lê Đại Hành đánh giặc Tống”
Tạp chí Hán Nôm số 2 năm 2002

Theo Viện nghiên cứu Hán Nôm (hannom.org.vn)

Chú thích:

(1) Cổ Công Đản Phụ: tên vị thủ lĩnh họ Chu, ông của Chu Văn Vương, dời tới đất Kỳ Sơn khai khẩn mở mang đất đai, xây thành quách, đặt quan lại, gây dựng cơ sở cho nhà Chu, được truy phong là Thái Vương. Kinh Thi – Đại nhã có câu: “Cổ Công Đản Phụ, Lai triều tẩu mã. Suất tây Thủy Hử, chí ư kỳ hạ”.

(2) Tả, hữu: đây chỉ thế đất phát đạt về văn, về võ.

(3) Chủ, khách: ở đây nói về mặt nội trị, ngoại giao.

(4) Xưa có cô gái đẹp một lần ngửa mặt lên trời, đàn chim nhạn trông thấy mặt mà phải sà xuống; Cô dạo quanh hồ, cá mặt hồ ngơ ngẩn trước sắc đẹp mà phải chìm: “sắc đẹp nhạn sa cá chìm”.

(5) Thiên nhan: sắc mặt nhà vua.

(6) Đô Hồ, Uyển Nhàn: những “mỹ từ” thường dùng tả về tiên.

(7) Đoạn này Nguyễn Bính soạn theo sử của Ngô Sĩ Liên.

(8) Sông Nhuệ thời cổ sâu rộng: Quân Bà Trưng, Bà Tía, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn đều có lần tiến quân theo sông ấy.

(9) Sông Đổ Lỗ: Xem Trận Đổ Lỗ của Trần Bá Chí trong sách Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, Nxb. Quân đội Hà Nội 1992.

(10) Thực ra khi vua mất mới tôn hiệu là Đại Hành. Đây do chép theo sử.

(11) Rằm tháng giêng tế bà Đồ Hồ có lễ “mộc dục”, tức lễ “tắm thánh” phản ánh việc Lê Hoàn sai bà tắm gội, mặc áo gấm về Kinh đô Hoa Lư.

(12) Năm Ất Tỵ niên hiệu ứng Thiên thứ 12 tức năm 1005 dương lịch.

(13) Tức tháng hai năm Nhâm Thân (1572) đời Lê Anh Tông.

(14) Tức tháng 8 năm 1740 dương lịch.