Bộ Quốc phòng xác nhận các doanh nghiệp (DN) Trung Quốc đang sử dụng hơn 6.300 ha đất biên giới tại  22/44 tỉnh, thành, bao gồm cả biên giới đất liền và biên giới biển, chưa kể nhiều lô đất tại Đà Nẵng do các cá nhân, DN của người Trung Quốc sở hữu.

Tuyến đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa chạy dọc bờ biển Mỹ Khê nối TP. Đà Nẵng về phố cổ Hội An, tháng 5/2019. (Ảnh: Tang Trung Kien/Shutterstock)

Chuẩn bị cho kỳ họp thứ 9 của Quốc hội, Bộ Quốc phòng vừa gửi đến ĐBQH báo cáo trả lời kiến nghị cử tri được đặt ra sau kỳ họp thứ 8. Bộ Quốc phòng cho biết cử tri TP.Hải Phòng cho rằng “tình trạng người Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam đầu tư, kinh doanh và thu mua đất đai gần các khu vực trọng yếu về quốc phòng, an ninh hiện nay là rất đáng ngại”; đề nghị Chính phủ có giải pháp khắc phục.

Trả lời kiến nghị cử tri về vấn đề trên, lần đầu tiên Bộ Quốc phòng đưa ra những thống kê và phân tích khá rõ ràng về việc người Trung Quốc sở hữu đất có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh tại Việt Nam.

134 lô, 1 thửa đất tại Đà Nẵng liên quan đến cá nhân, DN người Trung Quốc

Bộ Quốc phòng cho biết từ năm 2011 – 2015, trên địa bàn khu vực biên giới biển TP.Đà Nẵng có 134 lô, 1 thửa đất liên quan đến cá nhân, DN người Trung Quốc đang sở hữu, “núp bóng” sở hữu và thuê của UBND TP Đà Nẵng.

Các lô đất này nằm tại các vị trí dọc các khu đô thị ven biển; ven tường rào sân bay Nước Mặn, đường Hoàng Sa, Võ Nguyên Giáp (thuộc P.Khuê Mỹ, Q.Ngũ Hành Sơn); khu đô thị các phường, Thọ Quang (Q.Sơn Trà).

Cụ thể, về cá nhân, có 2 trường hợp là ông Liang Zhipei (Lương Chí Bồi, 45 tuổi), quốc tịch Trung Quốc, từng là kế toán trưởng, nay là Trưởng bộ phận giám sát công trình Công ty TNHH đầu tư và phát triển Silver Shores (trụ sở P.Khuê Mỹ, Q.Ngũ Hành Sơn).

Ông Chiu Cheng Tai (A Chiu, 61 tuổi), quốc tịch Đài Loan, Phó giám đốc Công ty TNHH Pu Fong (trụ sở tại P.Thọ Quang, Q.Sơn Trà), đã đầu tư cho người VN “núp bóng” mua đất.

Từ năm 2011 – 2015, 2 người trên đã đầu tư tiền cho 8 người (trong đó 6 người Việt gốc Hoa) đứng tên mua 84 lô đất với diện tích khoảng 20.000 m2, giá trị giao dịch khoảng trên 100 tỷ đồng.

Về doanh nghiệp, có 7 DN có yếu tố Trung Quốc sở hữu một số lô đất ven biển và thuê đất 50 năm, gồm:

Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Nguyên Thịnh Vượng, năm 2014 đã nhận quyền sử dụng đất đối với 10 lô đất trên mặt đường Hoàng Sa.

Công ty TNHH Thương mại du lịch và dịch vụ SiiverPark, đứng tên mua 4 lô đất ở dải đất ven tường rào sân bay Nước Mặn; Công ty TNHH Silver Sea Triệu Nghiệp, đứng tên sử dụng 2 lô đất ở dải đất ven tường rào sân bay Nước Mặn.

Công ty TNHH Thương mại Du lịch & Dịch vụ Hoàng Gia Trung, sử dụng 13 lô đất mặt đường Võ Nguyên Giáp; Công ty TNHH MTV Golden Wynn Đà Nẵng, sử dụng 1 lô đất ở mặt đường Hoàng Sa.

Công ty TNHH Thương mại – Du lịch và dịch vụ V.N. Holiday, DN đã chuyển nhượng mua lại từ các cá nhân, DN Việt Nam sở hữu 20 lô đất ở dải đất ven tường rào sân bay Nước Mặn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Công ty TNIHH SILVER SHORES Hoàng Đạt, được UBND thành phố Đà Nẵng cho thuê 200.000 m2 đất, thời gian thuê 50 năm (đến ngày 21/6/2056), đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/3/2017.

Mượn danh người Việt mua hoặc thâu tóm qua vốn góp bằng đất

Theo Bộ Quốc phòng, để sở hữu các lô đất ở TP.Đà Nẵng, người Trung Quốc chủ yếu dựa theo 2 hình thức.

Thứ nhất, người Trung Quốc thành lập DN liên doanh với Việt Nam.

Ban đầu, người Trung Quốc góp vốn thấp hơn người Việt Nam (người Việt Nam góp vốn chủ yếu bằng đất), DN sẽ do người Việt Nam điều hành. Sau một thời gian, bằng nhiều cách, người Trung Quốc tăng vốn, giành quyền điều hành DN. Do tài sản góp vốn là đất, nên quyền sở hữu các lô đất rơi vào tay người Trung Quốc.

Thứ hai, người Trung Quốc đầu tư tiền cho cá nhân người Việt Nam (chủ yếu người Việt gốc Hoa) để mua đất.

Cơ quan chức năng đã phát hiện một số trường hợp cá nhân có kinh tế khó khăn nhưng đứng tên sở hữu nhiều lô đất, như ông Lý Phước Cang 12 lô, ông Trác Ngọc Phúc 10 lô… Hầu hết các lô đất đều ở vị trí các đường lớn, ven biển, đắc địa cho hoạt động kinh doanh và có ý nghĩa quan trọng trong khu vực phòng thủ.

Hơn 6.300 ha đất biên giới đang do các DN Trung Quốc sử dụng 

Theo Bộ Quốc phòng, tính đến ngày 30/11/2019, có 149 DN có yếu tố Trung Quốc (92 DN 100% vốn Trung Quốc, 57 DN vốn liên doanh) đang hoạt động ở khu vực biên giới của 22/44 tỉnh, thành biên giới, trong đó, khu vực biên giới đất liền có 24 DN, khu vực biên giới biển có 125 DN.

Trong số đó, có 134 DN đang hoạt động, 15 DN đã triển khai nhưng tạm ngưng hoạt động. Các DN sử dụng đất với tổng diện tích 162.467,7 ha (trong đó có 943,7 ha thuộc khu vực biên giới đất liền và 5.393,7 ha khu vực biên giới biển, kể cả mặt biển). Các DN sử dụng đất có thời hạn thuê từ 5 đến 50 năm; lĩnh vực hoạt động chủ yếu là kinh doanh khách sạn, nhà hàng, du lịch, vui chơi giải trí, may mặc, nuôi trồng thủy sản, giày da, sản xuất bao bì, đồ chơi trẻ em, linh kiện điện tử…

Tổng vốn đầu tư của các DN này là 30,872 tỷ USD, trong đó khu vực biên giới đất liền 1,637 tỷ USD, khu vực biên giới biển 29,235 tỷ USD.

Về lao động, hiện có có 4.239 lao động người Trung Quốc đang làm việc tại các DN trên (khu vực biên giới đất liền 374 người, khu vực biên giới biển 3.865 người).

Đà Nẵng tập trung nhiều DN Trung Quốc nhất (22 DN). Tiếp đến là Quảng Ninh (17), Hải Phòng (16), Bình Định (9), Hà Tĩnh (5), Bình Thuận (5)…

Tuy nhiên, các DN có yếu tố Trung Quốc ở khu vực biên giới đều hình thành từ tháng 12/2018 trở về trước (năm 2019 không có DN mới nào). Trước khi cấp phép cho các DN này đầu tư, các cơ quan chức năng đều đã tiến hành thẩm định, phê duyệt.

Trong quá trình hoạt động, các DN có yếu tố Trung Quốc cơ bản chấp hành đúng pháp luật Việt Nam. Mặc dù vậy, vẫn có một số DN đưa lao động người Trung Quốc sang làm việc nhưng lại nhập cảnh dưới hình thức du lịch; sử dụng lao động Trung Quốc không khai báo, đăng ký theo quy định, thậm chí có DN không có tư cách pháp nhân tuyển dụng lao động người nước ngoài nhưng vẫn tuyển dụng (Bình Định, Đà Nẵng, Bình Thuận).

Có tình trạng DN đầu tư “núp bóng” danh nghĩa DN Việt Nam hoạt động trong các lĩnh vực du lịch, nuôi trồng, chế biến, thu mua hải sản nhưng thực chất việc điều hành, quản lý do người Trung Quốc đảm nhiệm (Khánh Hòa, Quảng Ninh).

Một số DN dưới vỏ bọc kinh doanh, sản xuất nhưng đã có hoạt động tội phạm công nhệ cao, sản xuất ma túy (Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Phú Yên, Kon Tum). Có DN trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường (Hà Tĩnh, Hải Phòng).

Báo cáo trả lời của Bộ Quốc phòng cho hay một số vụ việc có yếu tố liên quan đến người Trung Quốc đã được cơ quan chức năng Việt Nam xử lý như 3 vụ/63 người không khai báo tạm trú, 3 vụ/87 người không có giấy phép lao động, 1 vụ/285 công nhân Trung Quốc xô xát với công nhân Việt Nam, 1 vụ/3 trường hợp kết hôn trái phép, 4 vụ/310 lao động không chấp hành quy định trong quá trình làm việc tại các DN.

Dư luận cảm thấy “đáng ngại” là có cơ sở

Bộ Quốc phòng công nhận việc cử tri và dư luận xã hội “đáng ngại” về việc cơ quan chức năng thành phố Đà Nẵng cấp chứng nhận quyền sử dụng 21 lô đất cho người Trung Quốc là có cơ sở. Bộ Quốc phòng cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành và UBND thành phố Đà Nẵng xác minh làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân xử lý theo pháp luật.

Tuy nhiên, để sở hữu các lô đất người Trung Quốc đã nghiên cứu, lợi dụng kẽ hở của Luật Đầu tư năm 2014 “việc góp vốn bằng đất để liên doanh thành lập DN” và công tác quản lý nhà nước ở các lĩnh vực đầu tư, đất đai.

Về giải pháp, tới đây, Bộ Quốc phòng đã báo cáo và đề xuất Chính phủ 2 việc.

Thứ nhất, chỉ đạo các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố rà soát đánh giá tổng thể các dự án đầu tư của nước ngoài, nhất là dự án liên quan đến người Trung Quốc tại khu vực biên giới, biển, đảo có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh; kịp thời phát hiện, điều chỉnh những bất cập của Luật Đầu tư, Luật Đất đai và cơ chế quản lý, cấp phép các hoạt động đầu tư nhằm hạn chế sơ hở không để cá nhân, DN Trung Quốc lợi dụng hoạt động.

Thứ hai, chỉ đạo các đơn vị tăng cường công tác nắm tình hình, phối hợp với Công an rà soát các hoạt động của người Trung Quốc ở địa bàn đơn vị đảm nhiệm; chú ý các hoạt động lợi dụng vỏ bọc đầu tư, liên kết, núp bóng để hoạt động chống phá. Kịp thời phát hiện báo cáo Bộ Quốc phòng tham mưu với Chính phủ chỉ đạo xử lý, ngăn chặn.

‘Trung Quốc không từ bỏ tham vọng “độc chiếm Biển Đông”’

Liên quan đến nhóm vấn đề về Biển Đông được nhiều cử tri các địa phương gửi kiến nghị, Bộ Quốc phòng cho biết tình hình Biển Đông thời gian gần đây diễn biến phức tạp. Trung Quốc không từ bỏ tham vọng “độc chiếm Biển Đông” bất chấp dư luận và luật pháp quốc tế, ngày càng củng cố sự hiện diện, khả năng kiểm soát trên thực địa.

Trước tình hình trên, các lực lượng chức năng của Bộ Quốc phòng duy trì nghiêm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; bố trí các tàu trực, tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển trọng điểm sẵn sàng xử lý khi có tình huống xảy ra, để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của quốc gia.

Bộ Quốc phòng cho biết đã tăng cường lực lượng tàu trực tại các vùng biển trọng điểm, sẵn sàng các phương án xử trí không để bị bất ngờ, xử lý tốt các tình huống diễn ra trên biển. Bộ Quốc phòng cũng cho hay cần tích cực chuẩn bị, thu thập tài liệu, chuẩn bị sẵn hồ sơ đấu tranh pháp lý đưa ra quốc tế vào thời điểm phù hợp.

Nguyễn Quân