vật lý lượng tử – Trí Thức VNhttps://trithucvn.nettin tuc, tin tức, doc bao, tin nhanh, tin tuc 24h, tin nong, bao moi, tin moiSat, 10 Nov 2018 01:37:13 +0000en-UShourly1https://wordpress.org/?v=4.9.8https://w2.trithucvn.net/wp-content/uploads/2016/08/cropped-TTVN-App-Icon-1-32x32.pngvật lý lượng tử – Trí Thức VNhttps://trithucvn.net3232Phát hiện chấn động: 2 thí nghiệm đồng thời xác nhận chiều không gian thứ 4https://trithucvn.net/khoa-hoc/phat-hien-chan-dong-2-thi-nghiem-dong-thoi-xac-nhan-chieu-khong-gian-thu-4.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/phat-hien-chan-dong-2-thi-nghiem-dong-thoi-xac-nhan-chieu-khong-gian-thu-4.html#respondMon, 17 Sep 2018 01:55:45 +0000https://trithucvn.net/?p=2908362 phòng thí nghiệm vật lý độc lập đã đồng thời xác nhận sự tồ tại của chiều không gian thứ 4

The post Phát hiện chấn động: 2 thí nghiệm đồng thời xác nhận chiều không gian thứ 4 appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Theo hiểu biết hiện tại, con người chúng ta chỉ có thể trải nghiệm thế giới này theo ba chiều không gian (3D) và một chiều thời gian. Nhưng đầu năm 2018, các nhà khoa học tại 2 phòng thí nghiệm vật lý độc lập đã đồng thời xác nhận sự tồn tại của chiều không gian thứ 4.

2 nhóm các nhà vật lý đã tiến hành thí nghiệm trên hai hệ thống 2D đặc biệt, một với các nguyên tử được làm siêu lạnh và một với các hạt ánh sáng. Cả 2 thí nghiệm cho ra 2 kết quả tưởng chừng khác nhau nhưng lại bổ trợ cho nhau về việc xuất hiện “hiệu ứng lượng tử Hall” trong không gian 4D.

2 thí nghiệm này có ý nghĩa quan trọng đối với khoa học cơ bản, hoặc thậm chí cho phép các kỹ sư tiếp cận với vật lý học đối với các chiều không gian cao hơn từ thế giới 3D của chúng ta hiện nay. Kết quả của nghiên cứu này đã được đăng trên tạp chí Nature danh tiếng ngày 3/1/2018.

Hiệu ứng Hall cổ điển và hiệu ứng Hall lượng tử là gì?

Hiệu ứng Hall cổ điển là một hiệu ứng vật lý trong đó người ta áp dụng từ trường vuông góc lên một bản làm bằng kim loại hay chất bán dẫn hay chất dẫn điện nói chung (thanh Hall) đang có dòng điện chạy qua. Lúc đó người ta nhận được hiệu điện thế (hiệu thế Hall) sinh ra tại hai mặt đối diện của thanh Hall. Tỷ số giữa hiệu thế Hall và dòng điện chạy qua thanh Hall gọi là điện trở Hall, đặc trưng cho vật liệu làm nên thanh Hall. Hiệu ứng này được khám phá bởi Edwin Herbert Hall vào năm 1879.

Hiệu ứng Hall cổ điển (ảnh: Youtube)

Hiệu ứng Hall lượng tử (Quantum Hall Effect – QHE) từng là đề tài của một số giải Nobel (giải Nobel vật lý năm 1985 với hiệu ứng Hall lượng tử số nguyên – Integer Quantum Hall Effect, giải Nobel vật lý năm 1998 với hiệu ứng Hall lượng tử phân số – Fractional Quantum Hall Effect).

Hiệu ứng Hall lượng tử xảy ra ở những lớp dẫn điện rất mỏng về cơ bản có bản chất 2D. Khi những vật liệu 2D (ví dụ các tấm graphene) được làm lạnh xuống gần không độ tuyệt đối và chịu một từ trường mạnh, sự dẫn điện của nó bị lượng tử hóa và chỉ có thể biến thiên theo những bước rời rạc. Hiệu ứng Hall lượng tử là một tính chất chung của các chất dẫn điện 2D và có thể nhìn thấy ở nhiều vật liệu đa dạng – thậm chí khi các mẩu chất bị mất trật tự.

Độ dẫn điện Hall (độ dẫn đo thẳng góc với dòng điện-transverse conductivity) bị gián đoạn lượng tử hoá theo đơn vị e2/h (màu đỏ). Đường sóng phía dưới là độ trở dọc (longitudinal resistivity) (màu xanh). (ảnh: NobelPrize.Org/tiasang.com.vn)

>> Tìm ra vật liệu graphene 3D mới cứng hơn thép 10 lần (video)

Hiệu ứng Hall lượng tử xảy ra với không gian bốn chiều

Trong khi hiệu ứng Hall lượng tử không xảy ra ở các vật liệu 3D, thì vào năm 2001, hai nhà vật lý Shou-Cheng Zhang, Jiangping Hu tại Đại học Standford, Hoa Kỳ và Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, Trung Quốc đã dự đoán hiệu ứng này có thể xảy ra trong các hệ 4D. Nhưng hiện nay, con người cũng như các thiết bị khoa học và kỹ thuật của con người mới chỉ xác định được không gian ba chiều, nên ý tưởng của hai nhà khoa học này vẫn chỉ là lý thuyết… mãi cho đến bây giờ.

Giáo sư Mikael Rechtsman tại Đại học quốc gia Pennsylvania, Hoa Kỳ và các đồng sự đã xây dựng hệ hiệu ứng Hall lượng tử 4D từ một ma trận 2D của các bộ dẫn sóng quang học. Bộ dẫn sóng là những ống không gian kín được khắc qua một miếng thủy tinh bằng một laser mạnh (xem hình dưới). Bằng cách thận trọng bố trí các bộ dẫn sóng thành ma trận, nhóm đã tạo ra “các chiều tổng hợp” bổ sung giả lập một vật liệu 4D.

Trong hệ của họ, ánh sáng giữ vai trò của dòng điện và nhóm các nhà khoa học đã chứng minh được rằng sự truyền ánh sáng qua mạng giống hệt như trong một hệ hiệu ứng Hall lượng tử 4D.

Ma trận các ống dẫn sóng quang học mô phỏng hiệu ứng lượng tử Hall 4D (ảnh: physicsworld.com)

Trong khi đó, tại Viện Quang học Lượng tử Max Planck ở Munich, Đức, Giáo sư Immanuel Bloch và các đồng sự tạo ra các chiều tổng hợp giống như vậy bằng cách sử dụng một ma trận 2D của các nguyên tử cực lạnh bị bẫy bằng các chùm laser giao nhau. Nhóm của Bloch bắt đầu với một ma trận vuông đồng đều của các nguyên tử. Sau đó họ bật các chùm laser bổ sung trong mặt phẳng ma trận, chúng nằm lệch ngoài trục đối xứng của ma trận. Cách này tạo ra một siêu mạng phức tạp trong đó các nguyên tử chuyển động như được mô tả bởi hiệu ứng Hall lượng tử 4 chiều.

Mô phỏng hệ thống thí nghiệm của Immanuel Bloch về hiệu ứng lượng tử Hall 4D (ảnh: physicsworld.com)

Đối với vật lý [hiện tại], chúng ta không có hệ thống không gian 4D, nhưng chúng ta có thể tiếp cập với các vấn đề vật lý về hiệu ứng lượng tử Hall 4D thông qua hệ thống ít chiều không gian hơn vì hệ thống nhiều chiều không gian hơn bị mã hóa trong các kiến trúc phức tạp”, Giáo sư Mikael Rechtsman, Đại học Pensnavenia, tác giả của một trong 2 báo cáo trả lời phỏng vấn cho hay.

Tôi nghĩ rằng hai thí nghiệm đẹp đẽ này bổ sung cho nhau,” Michael Lohse từ Đại học Ludwig-Maximilians, Đức nói về phát hiện mới này. Theo nghĩa đơn giản nhất, nhóm thứ hai của các nhà khoa học đang xem xét hiệu ứng 4D trên bề mặt lớn của một hệ thống vật lý, trong khi nhóm đầu tiên đang xem xét các hiệu ứng trên các cạnh của cùng một hệ thống.

Về ý nghĩa của nghiên cứu này, Lohse hy vọng hệ thống của ông thậm chí có thể hỗ trợ việc nghiên cứu các vấn đề vật lý rộng hơn nữa, chẳng hạn như lực hấp dẫn lượng tử và bán kim loại Weyl. Trong khi đó, Rechtsman nghĩ rằng hệ thống của ông có thể giúp tạo ra các thiết bị quang tử khác tận dụng lợi thế của nhiều chiều không gian hơn, hoặc có thể các nhà khoa học khác sẽ tìm thấy các hiệu ứng tương tự trong loại vật liệu khác:

“Chúng ta có thể tiến đến lý thuyết vật lý mới trong các chiều không gian cao hơn và sau đó thiết kế các thiết bị tận dụng lợi thế vật lý của chiều không gian cao hơn trong các chiều không gian thấp hơn.” Rechtsman nói. “Có một câu hỏi khác về việc liệu các vật liệu rắn với các phần tử đơn vị phức tạp thật sự có các chiều không gian ẩn giấu này hay không, và liệu lý thuyết vật lý [hiện nay] của chúng ta có thể được lý giải trong lý thuyết vật lý có chiều không gian cao hơn, điều trước đây không thể tiếp cận được. Liệu điều này có thể cho chúng ta hiểu biết mới về các pha của vật chất với các thù hình mới?”

Thiện Tâm tổng hợp

>> Năng lượng từ trái tim: Trường điện từ kết nối cảm xúc và con người

The post Phát hiện chấn động: 2 thí nghiệm đồng thời xác nhận chiều không gian thứ 4 appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/phat-hien-chan-dong-2-thi-nghiem-dong-thoi-xac-nhan-chieu-khong-gian-thu-4.html/feed0
Khám phá quan trọng: Lần đầu tiên quan sát được phân rã của hạt Higgshttps://trithucvn.net/khoa-hoc/kham-pha-quan-trong-lan-dau-tien-quan-sat-duoc-phan-ra-cua-hat-higgs.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/kham-pha-quan-trong-lan-dau-tien-quan-sat-duoc-phan-ra-cua-hat-higgs.html#respondMon, 03 Sep 2018 04:27:29 +0000https://trithucvn.net/?p=287446Điều này củng cố một cách vững chắc cơ sở lý thuyết cho lý do tồn tại của hạt Higgs.

The post Khám phá quan trọng: Lần đầu tiên quan sát được phân rã của hạt Higgs appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Ngày 28/8/2018 vừa qua, các nhà khoa học làm việc tại dự án máy gia tốc hạt lớn nhất thế giới LHC, tại Trung tâm Nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN – Geneva, Thụy Sỹ), đã thông báo về việc lần đầu tiên quan sát thấy sự phân rã của hạt Higgs thành một cặp hạt và phản hạt quark đáy (bottom quark). Điều ngạc nhiên là hạt Higgs chủ yếu phân rã theo cách này.

(ảnh minh họa: Shutterstock)

Thông tin này cho thấy một sự thống nhất cao giữa những dự đoán lý thuyết và dữ liệu thực nghiệm, điều này củng cố một cách vững chắc cơ sở lý thuyết cho lý do tồn tại của hạt Higgs.

Hạt Higgs – “hạt của Chúa”

Những năm 1960, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa lực điện từ yếu và lực hạt nhân yếu, thứ chịu trách nhiệm cho một số loại phân rã phóng xạ. Mặt dù 2 lực này có vẻ như tách biệt, nhưng cuối cùng người ta phát hiện rằng 2 cả lực này đều xuất phát từ một một lực chung và cơ bản hơn, mà hiện nay chúng ta gọi là lực điện yếu.

Vấn đề dễ nhìn thấy nhất của lý thuyết này là nó dự đoán tất cả các hạt có khối lượng bằng không. Ngay trong những năm 1960, các nhà vật lý đã biết rằng các hạt hạ nguyên tử có khối lượng, vì vậy đây là sơ hở nghiêm trọng của lý thuyết này.

Một số nhóm các nhà khoa học đã đề xuất một giải pháp cho vấn đề này: một trường vô hướng tràn ngập khắp vũ trụ từ “thuở hồng hoang” được gọi là trường Higgs. Các hạt hạ nguyên tử cơ bản (hạt dưới mức nguyên tử) tương tác với trường này, và tương tác này đã cho chúng khối lượng. Sự tồn tại của trường Higgs cũng ngụ ý sự tồn tại của một hạt hạ nguyên tử được gọi là hạt Higgs hay còn ngoại là boson Higgs. Mô hình các hạt cơ bản theo lý thuyết này được gọi là Mô hình Chuẩn (Standard Model).

Trong hình vẽ dưới đây, hạt Higgs (H) được tô màu xám mờ, trong khi các loại hạt khác có màu hồng, tím, xanh.

Góc trái phía trên là 6 loại quark, gồm: u (viết tắt chữ up – tức quark lên), c (charm – quark duyên), t (top – quark đỉnh), d (down – quark xuống), s (strange – quark lạ) và b (bottom – quark đáy). Chính các quark trong hình chữ nhật nhỏ, màu hồng này hợp thành proton và neutron.

Hình chữ nhật nhỏ, màu xanh ở góc trái phía dưới chỉ 6 loại hạt nhẹ gọi là lepton (hạt có spin 1/2): electron – e, muon – µ, tauon – τ, neutrino electron – ϖe, neutrino muon – ϖµ và neutrino tauon – ϖτ.

Các hạt quark và lepton được coi là những loại hạt vật chất. Hình chữ nhật nhỏ, màu tím phía bên phải chỉ 4 loại hạt lực hay còn gọi là hạt trường (hạt truyền tương tác): Z, γ: (photon), W và g (gluon).

Trên đây là 16 loại hạt mà đến đầu năm 2012, giới vật lý đã khám phá được và mô tả rất kỹ càng, chính xác. Còn lại duy nhất loại hạt cơ bản thứ 17, tức hạt Higgs – theo lý thuyết bắt buộc phải có để Mô hình Chuẩn không bị sụp đổ – thì cho tới đầu năm 2012 vẫn chưa ai “trông thấy” bóng dáng hạt Higgs!

Vì suốt mấy thập niên mà chẳng ai tìm thấy, nên có lúc người ta gọi Higgs là “hạt của Chúa” với hàm ý nó đầy bí ẩn. Nhiều nhà khoa học cho rằng đây chỉ là cách nói ví von của giới báo chí, văn chương, tuy hấp dẫn nhưng chẳng giúp ích gì cho độc giả thấu hiểu bản chất vật lý của loại hạt này.

>> Máy tính lượng tử là gì và vì sao nó có khả năng tính toán siêu đẳng?

Do gần nửa thế kỷ săn lùng mà chẳng tìm thấy nên ngày 4/7/2012, khi 2 phòng thí nghiệm lớn của CERN cùng lúc công bố kết quả khám phá một loại hạt cơ bản mới, có những thuộc tính tương tự Higgs, dư luận giới khoa học toàn cầu chấn động mạnh. Đến nỗi có người ví von CERN vừa cho nổ một quả bom tấn giữa thanh thiên bạch nhật.

Một năm sau, nhà vật lý người Anh Peter Higgs và nhà vật lý người Bỉ François Englert – 2 người đã tiên đoán về việc tồn tại của hạt Higgs – đã chia sẻ giải Nobel vật lý năm 2013.

Cuộc tìm kiếm các hạt quark đáy

Máy gia tốc hạt lớn (LHC) (Ảnh: Flickr)

Các hạt Higgs được tạo ra trong các va chạm năng lượng cao giữa các cặp hạt đã được gia tốc tới gần với tốc độ ánh sáng. Những hạt này không tồn tại lâu, chúng chỉ tồn tại ở mức 10-22 giây. Một hạt với tuổi thọ như vậy, di chuyển với tốc độ ánh sáng, sẽ phân rã trước khi nó di chuyển đủ một khoảng cách có kích thước một nguyên tử. Do đó, không thể quan sát trực tiếp được hạt Higgs. Chỉ có thể quan sát được các sản phẩm phân rã của của chúng và sử dụng chúng để suy ra các đặc tính của các hạt mẹ.

Các hạt Higgs có khối lượng 12 giga electron vol (GeV) hoặc nặng bằng khoảng 133 lần một proton. Các tính toán từ lý thuyết được thực hiện trước đó dự đoán rằng hạt Higgs phân rã thành các cặp hạt theo tỷ lệ phần trăm như sau: quark đáy (58%), hạt W (21%), hạt Z (6%), các hạt lepton (2,6%) và các photon (0,2%). Còn lại một số cấu hình ngoại lai khác tạo ra phần còn lại.

Một trong những kết quả quan trọng của phát hiện lần này là khẳng định các dự đoán là chính xác cho hạt quark đáy.

Khi các nhà vật lý thông báo về việc phát hiện hạt Higgs năm 2012, họ dựa trên sự phân rã hạt Higgs thành hạt Z, hạt W và photon chứ không phải hạt quark đáy. Nguyên nhân là rất đơn giản: các phân rã đặc biệt này dễ xác định hơn nhiều.

Với các năng lượng va chạm có sẵn tại máy gia tốc LHC, xác suất được để tạo ra một hạt Higgs là 1 phần tỷ (1 tỷ va chạm mới có một va chạm sinh ra hạt Higgs). Số lượng va chạm lớn tại máy gia tốc LHC xảy ra qua sự tương tác của lực hạt nhân mạnh, là loại lực mạnh nhất của các lực hạ nguyên tử và có vai trò giữ các hạt nhân nguyên tử với nhau.

Vấn đề là trong các tương tác liên quan đến lực mạnh, việc tạo ra một cặp hạt-phản hạt của hạt quark đáy thực sự là khá phổ biến. Vì vậy, việc tạo ra các hạt quark đáy bởi sự phân rã của các hạt Higgs hoàn toàn bị tràn ngập bởi các cặp hạt quark được tạo ra bằng các tiến trình thông thường khác. Theo đó, về cơ bản là không thể xác định được các sự kiện mà trong đó sự phân rã các hạt Higgs tạo ra hạt quark đáy. Nó giống như việc cố gắng tìm một viên kim cương tự nhiên trong một thùng lớn đựng đầy các viên kim cương nhân tạo.

Bởi vì rất khó hoặc thậm chí không thể cách ly các va chạm mà trong đó các hạt Higgs phân hủy thành các hạt quark đáy, các nhà khoa học cần một cách tiếp cận khác. Các nhà nghiên cứu tìm kiếm một loại sự kiện khác – các va chạm mà ở đó các hạt Higgs được tạo ra đồng thời với các hạt W và Z. Các nhà nghiên cứu gọi loại va chạm này là “sản xuất kết hợp” (association production).

Các hạt W và Z có vai trò tạo ra lực hạt nhân yếu và chúng có thể phân rã theo những cách khác nhau và dễ nhận biết. Quá trình “sản xuất kết hợp” xuất hiện ít thường xuyên hơn các sự kiện không liên quan đến hạt Higgs, nhưng sự hiện diện của hạt W và Z giúp tăng cường đáng kể khả năng phát hiện ra các sự kiện có chứa hạt Higgs.

Kỹ thuật sản xuất kết hợp của hạt Higgs được ứng dùng đầu tiên ở Phòng thí nghiệm gia tốc quốc gia Fermi, nằm ở ngoại ô thành phố Chicago. Vì phòng thí nghiệm sử dụng máy gia tốc năng lượng thấp nên họ không có khả năng khẳng định đã tìm ra hạt Higgs, nhưng tri thức của phòng thí nghiệm đã góp vai trò quan trọng vào thành công này.

Mô phỏng sự kiện va chạm proton-proton trong LHC của CMS có đặc điểm của một hạt Higgs phân rã thành 2 quark đáy. Trong khi đây là một phân rã phổ biến của hạt Higgs, dấu hiệu của nó rất khó tách biệt với các sự kiện tương tự (ảnh: CMS)

Máy gia tốc LHC có hai máy dò hạt vật lý lớn có khả năng quan sát các hạt Higgs – là Compact Muon Solenoid (CMS) và A Toroidal LHC Apparatus (ATLAS). Cả 2 phòng thí nghiệm đã phối hợp đồng thời tuyên bố về quá trình sản xuất kết hợp của các hạt Higgs, với sự phân rã cụ thể của hạt Higgs thành một cặp quark đáy hạt và phản hạt.

>> Máy tính lượng tử là gì và vì sao nó có khả năng tính toán siêu đẳng?

Một lý thuyết quan trọng

Quá trình phát hiện ra hạt Higgs theo cách quan sát khá đơn giản là tiến bộ đáng kể trong qua khoa học, nhưng nó còn có một kết quả quan trọng hơn.

Nó chỉ ra rằng trường Higgs, được nói đến vào năm 1964 không chỉ được thúc đẩy bởi một lý thuyết nền tảng. Nó đã được đưa vào Mô hình Chuẩn, trong đó mô tả hành vi của các hạt hạ nguyên tử. (Trước khi trường Higgs được đề xuất, Mô hình Chuẩn đã dự đoán rằng các hạt không có khối lượng. Sau khi trường Higgs được đưa vào như là một bổ sung đặc biệt cho Mô hình Chuẩn, các hạt giờ đây đã có khối lượng). Vì vậy, rất cần khám phá những dự đoán về xác suất phân rã để tìm kiếm các gợi ý liên kết đến lý thuyết cơ bản. Và gần đây đã có nhiều lý thuyết toàn diện hơn được phát triển từ những năm 1960, dự đoán rằng có thể sẽ có hơn một loại hạt Higgs tồn tại.

Vì vậy, rất cần hiểu được tốc độ mà hạt Higgs phân ra thành các hạt khác và so sánh với tốc độ phân rã đã được dự đoán. Cách dễ nhất để minh họa sự thống nhất là báo cáo về tốc độ phân rã được quan sát, chia cho tốc độ dự đoán. Sự thống nhất tốt nhất giữa 2 tốc độ sẽ cho giá trị gần bằng 1.

Thí nghiệm của CMS tìm thấy sự thống nhất tuyệt vời trong báo cáo gần đây, với tỉ lệ giữa dự đoán và quan sát thực tế là 1,04 ± 0,2 và kết quả đo đạc của ATLAS là rất tương tự (1,01 ± 0,2). Sự thống nhất ấn tượng này là một chiến thắng của lý thuyết hiện tại, mặc dù nó không chỉ ra được một phương hướng để hướng tới một nguồn gốc cơ bản hơn cho các hiện tượng của hạt Higgs.

Theo livescience.com,
Thiện Tâm biên dịch và tổng hợp

The post Khám phá quan trọng: Lần đầu tiên quan sát được phân rã của hạt Higgs appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/kham-pha-quan-trong-lan-dau-tien-quan-sat-duoc-phan-ra-cua-hat-higgs.html/feed0
16 sự thật gây sửng sốt về cơ thể chúng ta (P1)https://trithucvn.net/khoa-hoc/18-su-that-gay-sung-sot-ve-co-the-chung-ta-p1.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/18-su-that-gay-sung-sot-ve-co-the-chung-ta-p1.html#respondSat, 21 Jul 2018 14:05:09 +0000http://trithucvn.net/?p=277400Rất nhiều những phát hiện khoa học thú vị nhất đều là những phát hiện về cơ thể con người chúng ta.

The post 16 sự thật gây sửng sốt về cơ thể chúng ta (P1) appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Rất nhiều phát hiện khoa học thú vị là những phát hiện về cơ thể con người chúng ta.

1. Ruột thừa

Ruột thừa thường bị coi là vô dụng. Dường như đa phần chúng ta chỉ biết rằng nó dễ bị nhiễm khuẩn và gây ra viêm ruột thừa. Nhưng gần đây người ta đã phát hiện rằng ruột thừa rất hữu ích cho các vi khuẩn có lợi cho hệ tiêu hóa của bạn. Chúng sử dụng ruột thừa là nơi nghỉ ngơi sau những giờ làm việc hối hả trong đường ruột.

Ruột thừa là nơi nuôi dưỡng và giúp duy trì đội quân vi khuẩn trong ruột luôn đầy đủ. Vậy, hãy đối xử công bằng với ruột thừa của bạn.

Ruột thừa trong cơ thể (ảnh: Internet)

2. Phân tử ngoại cỡ

Mọi thứ trong thế giới chúng ta đang trải nghiệm đều cấu tạo từ phân tử. Chúng có kích thước rất đa dạng, từ đơn giản là 2 nguyên tử như phân tử Ôxy cho đến các cấu trúc hữu cơ phức tạp. Nhưng phân tử lớn nhất trong tự nhiên trú ngụ trong cơ thể chúng ta. Đó là nhiễm sắc thể số 1.

Nhân tế bào một người bình thường chứa 23 cặp nhiễm sắc thể, mỗi nhiễm sắc thể là một phân tử DNA độc lập và rất dài. Nhiễm sắc thể số 1 là lớn nhất. Nó bao gồm khoảng 10 tỷ nguyên tử, để các thông tin được mã hóa trong phân tử.

3. Số lượng nguyên tử

Thật khó có thể biết được các nguyên tử cấu tạo nên cơ thể bạn nhỏ như thế nào cho đến khi bạn nhìn thấy số lượng của chúng. Một người trưởng thành được tạo nên từ khoảng 7 tỷ tỷ tỷ (7 x 1027) nguyên  tử.

4. Hồng cầu

Khi thấy máu bị rỉ ra từ vết thương trên ngón tay, bạn có thể nghĩ rằng nó màu đỏ là vì có sắt trong đó – cũng như sắt rỉ sét có sắc đỏ. Nhưng sự xuất hiện của sắt là trùng hợp. Màu đỏ phát sinh bởi sắt bị giữ giữa một vòng tròn các nguyên tử trong hemoglobin (loại protein chuyên chở oxy) gọi là sắc tố porphyrin và chính hình dạng của cấu trúc này đã tạo ra màu sắc đỏ.

Màu đỏ của hemoglobin phụ thuộc vào oxy có đi cùng với nó hay không. Khi có oxy, hình dạng của porphyrin sẽ thay đổi, khiến cho các tế bào hồng cầu có màu sắc tươi hơn.

>> Triển lãm thân thể người nhựa hóa, sự tàn nhẫn đến cùng cực

5. Con người sống sót được bao lâu trong không gian?

Nhiều người tin vào các bộ phim khoa học viễn tưởng, rằng những điều khủng khiếp sẽ xảy ra khi cơ thể bạn tiếp xúc với không gian vũ trụ bên ngoài phi thuyền mà không có quần áo bảo hộ. Nhưng điều này hầu như chỉ là hư cấu.

Chỉ có một số điều bất tiện xảy ra như không khí bên trong cơ thể sẽ phình ra, nhưng không có chuyện cơ thể nổ tung như trong các bộ phim Hollywood. Mặc dù các chất lỏng có thể sôi trong chân không, máu của bạn vẫn được giữ ở áp suất bình thường nhờ hệ thống tuần hoàn, và bạn vẫn ổn. Và mặc dù không gian vũ trụ rất lạnh, bạn sẽ không mất nhiệt quá nhanh, vì chân không cách nhiệt rất tốt.

Trong thực tế, bạn sẽ bị chết trong không gian vũ trụ chỉ đơn giản là do thiếu dưỡng khí. Năm 1965, quần áo bảo hộ của một người thử nghiệm trong phòng chân không bị hở, nạn nhân, người sau đó vẫn sống sót chỉ duy trì được ý thức trong 14 giây.

Chúng ta không biết chắc chắn về giới hạn sống sót của mỗi người, nhưng thông thường là 1 đến 2 phút.

Một phi hành gia trong bộ đồ du hành vũ trụ (ảnh: ryannagata.com)

6. Sự sụp đổ của nguyên tử

Các nguyên tử tạo nên cơ thể bạn chủ yếu là các khoảng không trống rỗng. Nếu không có vô số khoảng không trống rỗng này, cơ thể bạn sẽ bị nén nhỏ lại.

Các hạt nhân tạo nên khối lượng của vật chất trong một nguyên tử nhỏ hơn rất nhiều so với cấu trúc của nguyên tử, giống như 1 con ruồi trong nhà thờ. Nếu bạn mất đi khoảng không trong mỗi nguyên tử, cơ thể bạn có thể sẽ thu nhỏ thành một khối lập phương có kích thước 1/500 cm mỗi chiều.

Các ngôi sao neutron được tạo ra bởi vật chất đã trải qua tình trạng thu nhỏ này. Trong một cm3 của mỗi ngôi sao neutron, có 100 triệu tấn vật chất. Một ngôi sao neutron nặng hơn Mặt Trời của chúng ta (Mặt trời nặng khoảng 1,9891×1030kg, gấp 332.946 lần trọng lượng Trái Đất), nhưng ngôi sao neutron chỉ chiếm thể tích một khối cầu có đường kính khoảng 30km.

>> Khám phá quan trọng nhất thời đại: Khống chế năng lượng “miễn phí” từ thinh không

7. Lực điện từ mạnh ghê gớm

Các nguyên tử tạo lên vật chất không bao giờ chạm vào nhau. Khoảng cách giữa chúng càng gần nhau, thì lực đẩy tĩnh điện tạo ra bởi các bộ phận cấu thành lên chúng càng lớn.

Điều này cũng giống như việc chúng ta mang 2 đầu cùng dấu của 2 nam châm đặt cạnh nhau. Hiện tượng này thậm chí xảy ra khi các đối tượng đang tiếp xúc với nhau. Khi bạn ngồi lên một chiếc ghế, bạn không chạm vào nó. Bạn đang được treo lơ lửng ở trên mặt ghế cách một khoảng cách rất nhỏ sinh ra do lực đẩy giữa các nguyên tử. Lực điện từ này mạnh hơn rất nhiều so với lực hấp dẫn, mạnh hơn khoảng một tỷ tỷ tỷ tỷ lần (1 x 1036 lần).

8. Cơ thể bạn tạo thành từ bụi ngôi sao

Mỗi một nguyên tử trong cơ thể bạn có tuổi đời hàng tỷ năm. Hydro, nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ và là nhân tố chủ yếu của cơ thể bạn, được cho là được tạo ra từ 13,7 tỷ năm trước.

Các nguyên tử nặng hơn như cacbon và oxy tạo ra các ngôi sao từ 7 đến 12 tỷ năm trước và rải khắp vũ trụ khi bị nổ tung. Một số vụ nổ mạnh đến nỗi tạo ra các nguyên tố nặng hơn sắt, điều mà các ngôi sao không thể tạo nên. Có nghĩa các thành phần cơ thể của bạn thực sự có nguồn gốc xa xưa: bạn là bụi ngôi sao.   

9. Cơ thể lượng tử

Một trong những bí ẩn của khoa học là vì sao cơ thể bạn được tạo ra bởi các hạt lượng tử có hành xử rất kỳ lạ như nguyên tử và các thành phần của chúng.

Nếu bạn yêu cầu mọi người vẽ tranh về một nguyên tử trong cơ thể họ, hầu hết họ sẽ vẽ ra thứ gì đó như một hệ mặt trời thu nhỏ với các hạt nhân nguyên tử như là mặt trời và các electron đang quay xung quanh như những hành tinh. Thực tế, đây là mô hình đã cũ của nguyên tử, vì người ta thấy rằng nguyên tử có mô hình như vậy có thể sụp đổ nhanh chóng, do các hạt electron sẽ rất khó giữ vững quỹ đạo, chúng sẽ bị hút về phía hạt nhân nguyên tử.

Electron và hạt nhân nguyên tử

Thực tế, electron được giới hạn trong một một quỹ đạo cụ thể, như là chạy trên các đường ray. Chúng không thể tồn tại ở bất cứ nơi nào ngoài các quỹ đạo này, nhưng chúng phải thực hiện các “bước nhảy lượng tử” từ quỹ đạo này sang quỹ đạo kia. Ngoài ra, giống như các hạt lượng tử khác, các electron không xuất hiện ở các vị trí cụ thể mà xuất hiện ở các vị trí bất kỳ theo phân bố xác suất, vì thế hình ảnh tốt nhất để mô tả các electron là một tập hợp các lớp mờ xung quanh hạt nhân.

Xem tiếp Phần 2.

Theo theguardian.com
Thiện Tâm biên dịch

The post 16 sự thật gây sửng sốt về cơ thể chúng ta (P1) appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/18-su-that-gay-sung-sot-ve-co-the-chung-ta-p1.html/feed0
Thí nghiệm khoa học: Thời gian cũng tồn tại vướng víu lượng tử?https://trithucvn.net/khoa-hoc/thi-nghiem-khoa-hoc-thoi-gian-cung-ton-tai-vuong-viu-luong-tu.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/thi-nghiem-khoa-hoc-thoi-gian-cung-ton-tai-vuong-viu-luong-tu.html#respondWed, 27 Jun 2018 02:40:18 +0000http://trithucvn.net/?p=271621Sự vướng víu lượng tử được duy trì theo 'không gian', nhưng hiện tượng này cũng xảy ra theo thời gian.

The post Thí nghiệm khoa học: Thời gian cũng tồn tại vướng víu lượng tử? appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Cơ học lượng tử là một trong những lý thuyết cơ bản của vật lý học. Nó nghiên cứu về chuyển động và các đại lượng vật lý liên quan đến chuyển động như năng lượng và xung lượng của các vật thể nhỏ bé, ở đó lưỡng tính sóng-hạt được thể hiện rõ.

Ảnh minh họa về vướng víu lượng tử (ảnh qua outerplaces.com)

Nhà vật lý lượng tử nổi tiếng Niels Bohr đã từng nói: “Nếu cơ học lượng tử không làm bạn kinh ngạc, bạn chưa hiểu gì về nó.” Và đúng vậy, ít nhất thì cơ học lượng tử là thứ khó hiểu. Đối với những người không có chuyên môn, cơ học lượng tử nghiên cứu về ‘thực tại’ ở mức độ nhỏ nhất có thể (với trình độ khoa học hiện tại). Về cơ bản, nó nghiên cứu vật chất ở quy mô “lượng tử”. Điều gây khó hiểu về cơ học lượng tử là các quy luật điều chỉnh trong đó khác biệt đáng kể so với vật lý cổ điển.

Vướng víu lượng tử

Vướng víu lượng tử hay còn được gọi là rối lượng tử hoặc liên đới lượng tử (Quantum Entanglement) là một hiệu ứng của cơ học lượng tử, trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể có liên hệ với nhau, dù chúng nằm cách xa nhau tới đâu. Ví dụ, có thể tạo ra hai vật thể sao cho nếu quan sát thấy spin (mô-men động lượng riêng) của vật thứ nhất quay xuống dưới, thì spin của vật kia sẽ phải quay lên trên, hoặc ngược lại; dù cho cơ học lượng tử không tiên đoán trước kết quả phép đo trên vật thứ nhất. Điều này nghĩa là phép đo thực hiện trên vật thể này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái lượng tử trên vật thể vướng víu lượng tử với nó.

Rối lượng tử cho phép thực hiện các phép đo trạng thái của một vật thể từ trạng thái của một vật thể ở rất xa (ảnh: physicsoftheuniverse.com)

Khi còn sống, Einstein cho rằng vướng víu lượng tử là một hiện tượng “ma quái” đến mức không thể chấp nhận, vì nó khẳng định “không gian” giữa các thực thể vật lý thực sự không trống rỗng như các giác quan của chúng ta vẫn cảm nhận, mà thông tin có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng, thậm chí thông tin được truyền ngay lập tức mà không mất thời gian di chuyển.

Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Khoa học (Science) năm 2017 mô tả các nhà khoa học đã có thể tạo ra các photon vướng víu lượng tử trên một vệ tinh có quỹ đạo cách trái đất gần 500 km và truyền các photon này đến 2 phòng thí nghiệm trên mặt đất cách nhau 1.200km mà vẫn duy trì được sự vướng víu giữa các hạt. [1]

Theo tờ Washington Post,”đây là lần đầu tiên con người tạo ra các hạt bị vướng víu trong không gian, và gia tăng gấp 10 lần khoảng cách giữa các hạt bị vướng víu.”  

Thời gian có vướng víu lượng tử?

Sự vướng víu lượng tử đề cập đến kết nối được duy trì theo ‘không gian’, nhưng hiện tượng này cũng xảy ra theo thời gian.

Năm 2013, một nhóm các nhà vật lý tại Đại học Hebrew Jerusalem báo cáo rằng họ đã làm vướng víu thành công các photon không đồng thời tồn tại (được tạo ra tại hai thời điểm khác nhau). [2]

Mô tả thí nghiệm cho thấy photo 1 và photon 4 có vướng víu lượng tử mặc dù chúng được tạo ra bởi 2 thời điểm khác nhau. Ghi chú: Biểu đồ thời gian của các photon. (I) photon 1 và 2 ra đời. (II) photon 1 được ghi lại. (III) photon 3 và 4 ra đời. (IV) xác định giá trị photon 2 và 3. (V) ghi lại photon 4.

Các thí nghiệm trước đây liên quan đến một kỹ thuật gọi là “hoán đổi vướng víu” (entanglement swapping) đã cho thấy mối tương quan lượng tử theo thời gian, bằng cách trì hoãn việc đo lường một trong các hạt bị vướng víu được tạo ra đồng thời; nhưng Eli Megidish và cộng sự của ông là người đầu tiên trình diễn sự vướng víu giữa các photon không được tạo ra đồng thời.

Elise Crull, giảng viên khoa học lịch sử và triết học tại Đại học Thành phố New York, giải thích:

“Các thí nghiệm trước đây liên quan đến một kỹ thuật gọi là “hoán đổi vướng víu” đã cho thấy mối tương quan lượng tử theo thời gian, bằng cách trì hoãn phép đo của một trong những hạt bị vướng víu được tạo ra đồng thời; nhưng Eli Megidish và cộng sự của ông là người đầu tiên thể hiện sự vướng víu giữa các photon mà khoảng thời gian sống của chúng không lấn sang nhau (overlap).”

>> Khám phá quan trọng nhất của thời đại: Khống chế năng lượng “miễn phí” từ thinh không

Dữ liệu cho thấy sự tồn tại của mối tương quan lượng tử giữa các photon “phi định xứ tạm thời” (temporally nonlocal), có nghĩa là sự vướng víu có thể xảy ra trên hai hệ lượng tử chưa bao giờ đồng thời tồn tại (cả về thời gian lẫn không gian).

Megidish và các đồng nghiệp lấy một thí dụ dễ hiểu hơn để giải thích cho kết quả thí nghiệm được gọi là “kỳ quái” của mình:

“Điều này có nghĩa là gì? Hiển nhiên, ai đó hẳn sẽ gặp rắc rối nếu nói rằng sự phân cực của ánh sáng của một ngôi sao trong quá khứ xa xôi – có tuổi lớn hơn hai lần tuổi đời của Trái đất – lại ảnh hưởng đến sự phân cực của ánh sáng ngôi sao đi vào kính viễn vọng nghiệp dư của bạn vào mùa đông này. Thậm chí kỳ lạ hơn: có thể nó nói lên rằng các phép đo được thực hiện bởi mắt của bạn khi một ánh sao đi vào kính viễn vọng của bạn vào mùa đông này, bằng cách nào đó quyết định sự phân cực của các photon hơn 9 tỷ năm tuổi.”

Phân cực photon đi vào kính viễn vọng của bạn có thể vướng víu lượng tử với photon của một ngôi sao cách đây 9 tỷ năm tuổi – minh họa (ảnh: collective evolution)

Thí nghiệm sự lựa chọn lượng tử bị trì hoãn (delayed choice quantum experiment) hay còn gọi là thí nghiệm bộ xóa lượng tử (quantum eraser experiment) là một thí nghiệm khác cũng đã được chứng minh và lặp lại. Ví dụ, các nhà vật lý tại Đại học Quốc gia Úc (ANU) đã thực hiện thí nghiệm tưởng tượng của John Wheeler về sự lựa chọn bị trì hoãn, những kết quả gần đây đã được công bố trên tạp chí Nature Physics. Nó cho thấy rằng những gì xảy ra trong quá khứ có thể ảnh hưởng đến tương lai và ngược lại. [3]

Năm 2007, các nhà khoa học ở Pháp đã bắn các photon vào một thiết bị và cho thấy hành động của họ có thể hồi sinh điều đã xảy ra. (Tạp chí Sciene – Khoa học, số 315, 966, 2007)

“Nếu chúng ta cố gắng gán một ý nghĩa khách quan cho trạng thái lượng tử của một hệ thống đơn lẻ, các nghịch lý kỳ lạ sẽ xuất hiện: các hiệu ứng lượng tử bắt chước không chỉ hành động ở một khoảng cách một cách tức thì, mà ta còn thấy, ảnh hưởng của các hành động trong tương lai đối với các sự kiện quá khứ, ngay cả sau khi những sự kiện này đã được ghi lại một cách không thể thu hồi.” – Asher Peres, người tiên phong trong lý thuyết thông tin lượng tử. [4] [5]

Những gì được quan sát thấy ở quy mô lượng tử được cho là không xảy ra ở quy mô cơ học cổ điển. Ví dụ, có thể xảy ra hiện tượng dịch chuyển từ lượng tử (teleportation) một hạt vật chất cực nhỏ có từ vị trí này sang vị trí khác, nhưng điều đó không xảy ra với một cơ thể hoặc một vật thể vật lý đầy đủ. Hay điều đó có thể xảy ra, chỉ là chưa hiểu rõ mối liên hệ giữa quy mô lượng tử và quy mô vật lý cổ điển? Ngày nào đó mà nhân loại tìm ra được câu trả lời, chúng ta sẽ có thể tạo ra các cỗ máy với khả lực thay đổi không gian và thời gian, ví như mang đến khả năng dịch chuyển tức thời… Còn trong hiện tại, những công nghệ này chỉ mới xuất hiện trong thuyết âm mưu nói về các nghiên cứu công nghệ UFO mà thôi.

Theo collective-evolution.com
Thiện Tâm tổng hợp

[1] Sarah Kaplan, washingtonpost.com, June 15, 2017 Quantum entanglement, science’s ‘spookiest’ phenomenon, achieved in space

[2] Entanglement Swapping between Photons that have Never Coexisted, E. Megidish, A. Halevy, T. Shacham, T. Dvir, L. Dovrat, and H. S. Eisenberg, Phys. Rev. Lett. 110, 210403 – Published 22 May 2013

[3] Wheeler’s delayed-choice gedanken experiment with a single atom, A. G. Manning, R. I. Khakimov, R. G. Dall & A. G. Truscott, Nature Physics volume11, pages 539–542 (2015)

[4] Experimental delayed-choice entanglement swapping, Xiao-song Ma, Stefan Zotter, Johannes Kofler, Rupert Ursin, Thomas Jennewein, Časlav Brukner & Anton Zeilinger Nature Physics volume8, pages479–484 (2012)

[5] Delayed choice for entanglement swapping ASHER PERES Department of Physics, Technion—Israel Institute of Technology, 32 000 Haifa, Israel

The post Thí nghiệm khoa học: Thời gian cũng tồn tại vướng víu lượng tử? appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/thi-nghiem-khoa-hoc-thoi-gian-cung-ton-tai-vuong-viu-luong-tu.html/feed0
Mọi thứ trong vũ trụ đều được tạo thành từ những rung độnghttps://trithucvn.net/khoa-hoc/moi-thu-trong-vu-tru-deu-duoc-tao-thanh-tu-nhung-rung-dong.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/moi-thu-trong-vu-tru-deu-duoc-tao-thanh-tu-nhung-rung-dong.html#respondSun, 03 Jun 2018 11:10:39 +0000http://trithucvn.net/?p=266367"Nếu bạn muốn biết những bí mật của vũ trụ, hãy suy nghĩ về năng lượng, tần số và rung động." - Nikola Tesla.

The post Mọi thứ trong vũ trụ đều được tạo thành từ những rung động appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Giới vật lý lượng tử đã phát hiện ra rằng các nguyên tử vật lý được tạo thành từ vô số các xoáy năng lượng được gọi là các hạt quark và photon, các xoáy năng lượng này liên tục quay và rung động, mỗi cái đều phát ra đặc tính năng lượng duy nhất (unique energy signature) của mình. Đây là những gì tạo nên cấu trúc nguyên tử. Khi quan sát gần hơn, ta sẽ không thấy gì cả, mà chỉ thấy một khoảng trống vật lý. Nguyên tử không có cấu trúc vật lý, vật chất thực sự không có cấu trúc vật lý nào cả. Nguyên tử được tạo ra từ năng lượng vô hình, không phải từ vật chất hữu hình.

(ảnh: youtube)

Cha đẻ của lý thuyết lượng tử, Tiến sỹ Max Planck, người nhận giải Nobel vật lý năm 1918, có kết luận: không có bất cứ vật chất nào tồn tại trên thế giới, và vật chất được cấu tạo từ các lượng tử rung động liên tục.

Khoa học hiện đại cũng xác nhận mối quan hệ giữa năng lượng và vật chất, nổi tiếng nhất là công thức E=mc2 của Einstein (E là năng lượng, m là khối lượng, c là vận tốc ánh sáng).

Tuy nhiên, con người bị giới hạn trong cảm quan vốn quen tiếp xúc với không gian 3 chiều và khái niệm thời gian tuyến tính; vật lý cổ điển của Newton cho rằng thực thể và vật chất có cùng biên giới, còn James C. Maxwell cho rằng thực thể và vật chất có cùng trường năng lượng liên tục và thăng giáng. Cả hai đều trở thành 2 trụ cột lớn của vật lý học cổ điển cuối thế kỷ 19.

Tuy nhiên, khi các nhà khoa học khám phá sâu hơn lĩnh vực nguyên tử, hoặc khi khám phá vũ trụ bao la, họ phát hiện rằng bản chất của vật chất và năng lượng là điều vượt ra ngoài hiểu biết, kinh nghiệm và giác quan của con người. Cơ học lượng tử và thuyết tương đối xuất hiện đầu thế kỷ 20 cũng hoàn toàn phản đảo lại nhận thức về không gian của vật lý học và cơ học cổ điển. Nổi tiếng nhất là công thức của Planck: E=hv (E là năng lượng của mỗi lượng tử, h là hằng số Planck – hằng số lượng tử Planck, v là tần số dao động của lượng tử), vì h là hằng số nên lượng tử có tần số dao động càng cao thì năng lượng của nó càng lớn.

Sơ đồ Feynman về sự rung động của các hạ nguyên tử (ảnh: pbs.org)

Theo đó, tất cả các vật chất hữu hình lẫn vật chất vô hình đều là các năng lượng liên tục rung động. Sự khác biệt giữa chúng là tần số dao động khác nhau, và do đó, các vật chất khác nhau có ý thức khác nhau và hình thức được tạo ra khác nhau. Vật chất có tần số rung động cao trở thành những vật chất vô hình, như suy nghĩ, cảm xúc và ý thức của con người. Vật chất có tần số rung động thấp trở thành những thứ hữu hình như bàn, ghế và cơ thể người, những thứ có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Con người đồng thời tồn tại trong 2 dạng thế giới khác nhau, trên đầu là thế giới tinh thần có tầng thứ cao, dưới chân là thế giới thực thể vật chất hóa, con người có nhục thể nhưng cũng có linh thể. Mới thoạt nghe, “linh thể” và “nhục thể” là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau, nhưng linh thể và nhục thể không phải là không có liên hệ gì, bởi vật chất là năng lượng, vật chất hữu hình và vô hình là năng lượng không ngừng dao động, sự khác nhau của chúng là tần số dao động khác nhau, từ đó mà sinh ra vật chất khác nhau có dạng thức hoặc hình thức khác nhau.

Về vật chất, năng lượng (cái mà chúng ta vẫn nói là “khí” hay rung động trong vật lý), Kybalion – giáo lý bí truyền của các tư tế Ai Cập cổ đại đã nói về “nguyên lý rung động” như sau: “Không có gì đứng yên, mọi thứ đều đang chuyển động, mọi thứ đều rung động.”

>> Vật chất và ý thức là một thể thống nhất

Lý thuyết về mức năng lượng của David Hawkins

Thông tin ở trên khiến cho ta có nhận định rằng: chúng ta đều là năng lượng, tỏa ra đặc tính năng lượng duy nhất của riêng mỗi người. Cảm nhận, suy nghĩ và cảm xúc đóng một vai trò quan trọng, vật lý lượng tử giúp chúng ta thấy tầm quan trọng của cách chúng ta cảm nhận. Nếu nội tâm chúng ta đang đầy yêu thương, bình hòa, chắc chắn nó sẽ tác động đến thế giới xung quanh chúng ta, và ảnh hưởng đến cảm giác của người khác.

“Nếu bạn muốn biết những bí mật của vũ trụ, hãy suy nghĩ về năng lượng, tần số và rung động.” – Nikola Tesla.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những cảm xúc tích cực và hành động từ một nội tâm yên bình có thể dẫn đến một trải nghiệm rất khác cho người phát ra những cảm xúc đó và cho những người xung quanh. Ở mức hạ nguyên tử của chúng ta, tần số dao động có thay đổi biểu hiện của thực tại vật lý không? Nếu có, thì theo cách nào? Chúng ta biết rằng khi một nguyên tử thay đổi trạng thái của nó, nó hấp thụ hoặc phát ra các tần số điện từ, tương ứng với các thay đổi về trạng thái của nó.

Các nhà khoa học ở Viện HeartMath đã chứng minh rằng các trạng thái cảm xúc, nhận thức và cảm nhận khác nhau của mỗi người sẽ tạo ra các tần số điện từ khác nhau từ cơ thể họ.

Trường điện từ sinh học tạo ra bởi trái tim mỗi người có thể kết nỗi với nhau (ảnh: IHM)

Sở dĩ chúng ta thường nghĩ rằng “vật chất và năng lượng” hoặc “cơ thể và tinh thần” là hoàn toàn khác nhau, là bởi vì con người chúng ta có chế độ suy nghĩ nhị phân (lưỡng cực). Những điều chúng ta biết hầu như chỉ là tất cả tri thức và tư duy logic mà chúng ta có được. Và những tri thức và tư duy logic hình thành nên những suy nghĩ, sự suy nghĩ trở thành nền tảng của ngôn ngữ. Mô hình này khiến cho con người có suy nghĩ hai chiều. Do đó, trong thế giới của con người có “thiện” có “ác”, có “đúng” thì tự nhiên cũng có “sai”, có “tốt” thì ắt có “xấu”, có “vui vẻ” đương nhiên cũng có “đau khổ”, tất cả đều có mặt đối lập của nó.

Nghiên cứu “Lý thuyết mức năng lượng” của Tiến sỹ David R. Hawkins, nhà tâm thần học người Mỹ cho thấy, một người có mức năng lượng tốt thì có tần số cao, ngược lại mức năng lượng thấp thì tần số thấp. Và mức năng lượng của họ tương ứng với cảm xúc hay cảnh giới tinh thần của họ. Cụ thể:

  1. Giác ngộ: 700 ~ 1000
  2. Điềm tĩnh, thanh thản: 600
  3. Vui vẻ, thanh tĩnh: 540
  4. Tình yêu và sự tôn kính: 500
  5. Lý tính, thấu hiểu: 400
  6. Khoan dung độ lượng: 350
  7. Hy vọng lạc quan: 310
  8. Lòng tin cậy: 250
  9. Can đảm: 200
  10. Tự cao, khinh thường: 175
  11. Căm ghét, thù hận: 150
  12. Dục vọng, khao khát: 125
  13. Sợ hãi, lo lắng: 100
  14. Đau buồn, tiếc nuối: 75
  15. Thờ ơ, tuyệt vọng: 50
  16. Nhục nhã, hổ thẹn: 20

Người có tần số nhỏ hơn 10 khả năng cao là gặp vấn đề về sức khỏe như các bệnh mãn tính, hoặc bệnh nặng.

Người có có tần số gần bằng 0 là những người đang cận kề bờ vực của cái chết.

Các cảnh giới khác nhau có năng lượng khác nhau

Vì thế, cổ nhân nói “sinh mệnh đang vận động”, dù là “nội tĩnh ngoại động” (thể dục) hay là “ngoại tĩnh trong động” (thiền định) thì đều chính xác.

Lấy một ví dụ, vật chất và năng lượng giống như hai cực của một thể liên tục (continum), một cực là đen, một cực là trắng, nằm giữa 2 cực là màu xám. Màu xám có đặc điểm trắng đen của 2 cực bao gồm từ màu xám trắng phát triển đến màu xám đen, hiện tượng này giống như điều được nói trong “nguyên lý lưỡng cực” của “triết học”: “Mọi thứ đều theo cặp, mọi thứ đều có 2 cực, mọi thứ đều có mặt đối lập, tương đồng và không không tương đồng cũng như vậy. Những thứ tương phản về cơ bản là giống nhau, chỉ là thể hiện ra sự khác nhau về mức độ, hai trạng thái cực đoan sẽ gặp nhau, tất cả chân lý chẳng qua chỉ là một nửa chân lý, tất cả mâu thuẫn có lẽ cũng là đang điều hòa lẫn nhau.

Xét theo nghiên cứu tâm linh (Psychic Research) và nghiên cứu y học mà nói, tần số dao động năng lượng cao là thuộc về bậc Giác Ngộ ở cảnh giới tư tưởng cao; khi tần số dao động thấp, sinh ra vật chất thô và nặng ví dụ như thân xác thịt của con người. Thân xác thịt ở không gian 4 chiều của nhân loại là có tần số thấp nhất.

Thiện Tâm tổng hợp

>> Khám phá quan trọng nhất của thời đại: Khống chế năng lượng “miễn phí” từ thinh không

 

The post Mọi thứ trong vũ trụ đều được tạo thành từ những rung động appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/moi-thu-trong-vu-tru-deu-duoc-tao-thanh-tu-nhung-rung-dong.html/feed0
Tấm ảnh chụp 1 nguyên tử thắng giải nhất Cuộc thi Ảnh khoa họchttps://trithucvn.net/khoa-hoc/tam-anh-chup-1-nguyen-tu-thang-giai-nhat-cuoc-thi-anh-khoa-hoc.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/tam-anh-chup-1-nguyen-tu-thang-giai-nhat-cuoc-thi-anh-khoa-hoc.html#respondWed, 21 Feb 2018 03:06:26 +0000http://trithucvn.net/?p=237755Nhà vật lý lượng tử David Nadlinger thuộc đại học Oxford đã chụp được bức ảnh 1 nguyên tử đơn lẻ treo trong điện trường…

The post Tấm ảnh chụp 1 nguyên tử thắng giải nhất Cuộc thi Ảnh khoa học appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Nhà vật lý lượng tử David Nadlinger thuộc đại học Oxford (Anh Quốc) đã chụp được bức ảnh một nguyên tử đơn lẻ treo trong điện trường và có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Chỉ vài năm trước thôi thì điều này là bất khả thi.

Tấm ảnh chụp 1 nguyên tử
(ảnh: David Nadlinger / Oxford University)

Bức ảnh đáng kinh ngạc này có tiêu đề “Đơn nguyên tử trong một bẫy ion”, gần đây đã giành được giải thưởng trong trong cuộc thi ảnh khoa học của Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Vật lý và Kỹ thuật Anh Quốc (tên viết tắt tiếng Anh: EPSRC).

Bạn có thể thấy được nguyên tử trong tấm hình ở trên, đó là chấm nhỏ xíu ở trung tâm. Nó hơi khó thấy một chút, do vậy bạn có thể sẽ phải dùng kính lúp để nhìn tấm ảnh này.

Thật ra, bức ảnh không phải chỉ chụp nguyên tử, mà là ánh sáng phát ra từ nguyên tử đó trong trạng thái bị kích thích. Theo lời dẫn của EPSRC: Bức ảnh “Đơn nguyên tử trong một bẫy ion”, chụp bởi David Nadlinger thuộc đại học Oxford, cho thấy một nguyên tử treo bởi trường phát ra từ các cực kim loại xung quanh nó. Khoảng cách giữa hai đầu mũi kim nhỏ là khoảng 2 milimet.

>> Sự tồn tại của linh hồn không mâu thuẫn với khoa học – một nhà vật lý gạo cội giải thích

Khi được chiếu sáng bằng ánh sáng laser đúng màu xanh tím, nguyên tử sẽ hấp thu và phát ra hạt ánh sáng đủ nhanh để một camera bình thường có thể chụp được trong chế độ chụp phơi sáng. Bức ảnh giành chiến thắng này được chụp qua cửa sổ của một khoang chân không cực cao, trong đó đặt bẫy ion.

Tấm ảnh chụp 1 nguyên tử
(ảnh: David Nadlinger / Oxford University)

Những ion nguyên tử làm mát bằng laser cung cấp một nền tảng mới để khám phá và sử dụng những đặc tính độc đáo của vật lý lượng tử. Chúng có thể được sử dụng làm những bộ cảm biến và đồng hồ cực kỳ chính xác. Hay như theo khám phá của Trung tâm mạng Công nghệ Thông tin Lượng tử Anh Quốc, chúng còn có thể dùng làm các khối nền tảng cho máy tính lượng tử trong tương lai, có thể xử lý những vấn đề thách thức siêu máy tính mạnh nhất hiện nay.

Ông Nadlinger chia sẻ: “Nếu chúng ta nhìn được một nguyên tử đơn lẻ bằng mắt thường thì đó là một cầu nối tuyệt vời, trực tiếp và đẹp đẽ giữa thế giới lượng tử vi quan và thế giới vĩ mô thực tại của chúng ta. Những tính toán sơ bộ cho thấy những số liệu rất khả quan và thuận lợi, và khi tôi quyết định đến phòng thí nghiệm với một máy ảnh và giá ba chân vào một buổi chiều thứ 7 yên tĩnh, cuối cùng tôi đã được tưởng thưởng bằng cái chấm nhỏ xanh nhạt này.

Theo thisiscolossal
Nguyên Khánh

>> Máy tính lượng tử là gì và vì sao nó có khả năng tính toán siêu đẳng?

The post Tấm ảnh chụp 1 nguyên tử thắng giải nhất Cuộc thi Ảnh khoa học appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/tam-anh-chup-1-nguyen-tu-thang-giai-nhat-cuoc-thi-anh-khoa-hoc.html/feed0
Máy tính lượng tử là gì và vì sao nó có khả năng tính toán siêu đẳng?https://trithucvn.net/khoa-hoc/may-tinh-tuong-tu-la-gi-va-vi-sao-no-co-kha-nang-tinh-toan-sieu-dang.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/may-tinh-tuong-tu-la-gi-va-vi-sao-no-co-kha-nang-tinh-toan-sieu-dang.html#respondSat, 09 Dec 2017 20:31:46 +0000http://trithucvn.net/?p=216731Dựa trên cơ học lượng tử, các máy tính lượng tử đang được kỳ vọng sẽ mang lại khả năng tính toán gấp hàng triệu lần các máy tính thông thường.

The post Máy tính lượng tử là gì và vì sao nó có khả năng tính toán siêu đẳng? appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Được cho là sẽ thay đổi hoàn toàn các quy tắc của máy tính, các máy tính lượng tử đang được kỳ vọng sẽ mang lại khả năng tính toán gấp hàng triệu lần các máy tính thông thường.

Trong thời gian vừa qua, các công ty như IBM, Google, Microsoft, D-wave đều công bố về các bước tiến mới đối với máy tính lượng tử, đặc biệt IBM đã bắt đầu đưa máy tính lượng tử 5 qubit lên “đám mây” để người dùng trên thế giới có thể làm quen và thử nghiệm sức mạnh của chiếc máy tính. Bên cạnh đó, các ngôn ngữ lập trình lượng tử cũng như các nền tảng phát triển ứng dụng phần mềm dựa trên máy tính lượng tử cũng được các công ty đặc biệt chú ý.

Tuy vậy, cũng giống như cơ học lượng tử, máy tính lượng tử vẫn là thứ rất khó hiểu và mơ hồ đối với mọi người. Bài viết này sẽ giới thiệu cho bạn những thông tin cơ bản về máy tính lượng tử và khả năng ứng dụng của chúng.

Phần 1: Những nguyên tắc cơ bản của cơ học lượng tử được sử dụng trong máy tính lượng tử

Máy tính lượng tử
(ảnh: D-Wave/M. Thom)

Lưỡng tính sóng hạt của vật chất

Một trong những khái niệm quan trọng nhất của cơ học lượng tử là: vì một lý do nào đó, các vi hạt ở mức độ nguyên tử (nguyên tử, phân tử) và hạ nguyên tử (hạt nhân, proton, electron, photon…) vừa có tính chất của sóng lẫn tính chất của hạt.  

Thí nghiệm cơ bản nhất chứng minh lưỡng tính sóng hạt của vật chất là thí nghiệm khe đôi lượng tử:

Nếu bạn phát một chùm vi hạt bay qua 2 khe hở song song đến đập vào bức tường, trên đó có gắn máy dò, bạn sẽ phát hiện ra một dải các vệt sáng sẽ xuất hiện. Nó được gọi là mẫu giao thoa do sự nhiễu xạ của các sóng hạt khi đi qua khe đôi này.

(Ảnh: Fu-Kwun Hwang và Francisco Esquembre)

Giống như làn sóng, các sóng hạt đi qua một khe sẽ nhiễu xạ các sóng hạt đi qua khe còn lại. Nếu đỉnh (cực đại biên độ) của sóng từ khe này trùng với đáy (cực tiểu biên độ) của sóng từ khe kia, chúng sẽ triệt tiêu nhau và không hiển thị trên màn hình. Nếu 2 đỉnh sóng trùng nhau, chúng sẽ cộng véctơ và tạo ra vệt sáng trên bức tường, đây còn được gọi là hiện tượng giao thoa hay chồng chập (superposition) sóng của các hạt.

>> Lần đầu tiên thực hiện được Dịch chuyển lượng tử giữa Trái Đất và vệ tinh

Spin: mô-men động lượng không tồn tại trong vật lý cổ điển

Năm 1925, hai nhà vật lý người Hà Lan là George Uhlenbeck và Samuel Goudsmit đã phát hiện rằng electron có một loại chuyển động đặc biệt tạo ra tính chất từ phù hợp với các số liệu đo được: đó là chuyển động tự quay, hay còn gọi là spin.

Hai ông đã viết một bài báo ngắn, với kết luận “các electron vừa quay vừa tự quay”. Theo bài báo ngắn trên, mỗi electron trong vũ trụ luôn luôn và mãi mãi tự quay với một tốc độ cố định. Vì thế chúng luôn có mô-men động lượng riêng (sau gọi tắt là spin). Spin là một khái niệm thuần túy lượng tử, không có sự tương ứng trong cơ học cổ điển.

Quan niệm về spin sau đó được chứng tỏ rằng có mâu thuẫn với thuyết tương đối. Tuy nhiên, cho dù nguồn gốc sinh ra spin như thế nào chưa rõ, spin của tất cả các hạt cơ bản tạo nên thế giới vật chất, như electron, quark đều khác không và bằng ħ/2 (ħ là hằng số plank), gọi tắt là 1/2. Các hạt như photon có spin bằng 1… Như vậy, spin là một đặc trưng nội tại của hạt, nó cố hữu giống như khối lượng và điện tích đặc trưng của hạt đó. Nếu một electron không có spin thì nó không còn là một electron nữa.

Máy tính lượng tử
Mô phỏng spin của một electron (ảnh: youtube)

Chồng chập lượng tử và qubit

Chồng chập lượng tử (hay chồng chất lượng tử, xếp lớp lượng tử) là việc áp dụng nguyên lý chồng chập vào cơ học lượng tử. Nguyên lý chồng chập vốn là sự cộng véctơ các véctơ sóng trong giao thoa. Trong cơ học lượng tử, các véctơ hàm sóng, hay véctơ trạng thái được cộng.

Cụ thể, chồng chập lượng tử có thể được phát biểu là “nếu một hệ lượng tử có thể được phát hiện ở một trong 2 trạng thái, A và B với các tính chất khác nhau, nó cũng có thể được phát hiện ở trạng thái tổ hợp của chúng, aA + bB, ở đó a và b là các số bất kỳ”.

>> 5 thí nghiệm khoa học chứng minh suy nghĩ của bạn tác động lên vật chất

Với thí nghiệm khe đôi được đề cập bên trên, các nhà vật lý lượng tử còn phát hiện rằng hiện tượng giao thoa hay chồng chập sóng của các hạt vẫn xuất hiện sau khe đôi khi chỉ phát ra một electron tại một thời điểm. Điều này có nghĩa là một electron cũng tạo ra hiện tượng chồng chập các trạng thái của bản thân nó.

Điều này được ứng dụng vào máy tính lượng tử với việc tạo ra các quantum bit (bit lượng tử), gọi tắt là qubit. Các nhà phát minh máy tính lượng tử sử dụng một vi hạt như một qubit, và trạng thái spin hướng lên hay hướng xuống của vi hạt tương ứng với trạng thái của qubit.

Máy tính lượng tử
Quả cầu Bloch là một quả cầu có bán kính đơn vị. Nó được sử dụng để biểu diễn các qubit một cách trực quan. Vị trí của mỗi qubit được xác định rõ ràng thông qua các tham số Φ và θ (ảnh: wikipedia.org)

Khác với máy tính kỹ thuật số dựa trên tranzitor đòi hỏi cần phải mã hóa dữ liệu thành các chữ số nhị phân, mỗi số được gán cho 1 trong 2 trạng thái nhất định là 0 hoặc 1, tính toán lượng tử sử dụng các bit lượng tử ở trong trạng thái chồng chập để tính toán. Điều này có nghĩa là 1 bit lượng tử có thể có giá trị 0 và 1 ở cùng 1 thời điểm, tức là xảy ra hiện tường chồng chập lượng tử của qubit.

Để giải thích điều này, hãy hình dung rằng có một đồng tiền được tung lên. Trước khi nó tiếp đất bằng mặt trước hay mặt sau, nó sẽ quay tít trong không trung với tốc độ cực nhanh. Và khi nó đang quay tít như vậy, tại một thời điểm nhất định bạn xác định mặt của đồng xu thì nó sẽ có cả 2 trạng thái, sấp và ngửa.

Như vậy, nếu một máy tính có 2 qubit, tại một thời điểm nó sẽ có 22 = 4 trạng thái, 3 qubit sẽ có 23 = 8 trạng thái, N qubit sẽ có 2N  trạng thái của qubit đồng thời. Điều này có nghĩa là chiếc máy tính lượng tử N qubit sẽ có tương đương với sức mạnh của 2N máy tính chạy song song nhau. Điều này lý giải tại sao máy tính lượng tử có khả năng tính toán cực nhanh so với máy tính thông thường.  

Máy tính lượng tử
Mô phỏng qubit thông qua hình ảnh của đồng xu (ảnh: sciencenews.org)

Về mặt lý thuyết, một máy tính có nhiều qubit có khả năng xử lý một lượng tác vụ vô cùng lớn như tính toán số học hoặc thực hiện tìm kiếm cơ sở dữ liệu cực lớn trong thời gian nhanh hơn nhiều so với các máy tính thông thường.

Một máy tính lượng tử có thể giải quyết cực nhanh những vấn đề phức tạp mà các siêu máy tính hiện nay dù mất hàng triệu năm vẫn không tìm ra được lời giải đáp.

Rối lượng tử

Rối lượng tử hay vướng víu lượng tử là một hiệu ứng trong cơ học lượng tử trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể có liên hệ với nhau, dù cho chúng có nằm cách xa nhau. Ví dụ, có thể tạo ra hai vật thể sao cho nếu quan sát thấy spin của vật thứ nhất quay xuống dưới, thì spin của vật kia sẽ phải quay lên trên, hoặc ngược lại; dù cho cơ học lượng tử không tiên đoán trước kết quả phép đo trên vật thứ nhất. Điều này nghĩa là phép đo thực hiện trên vật thể này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái lượng tử trên vật thể vướng víu lượng tử với nó.

Rối lượng tử cho phép thực hiện các phép đo trạng thái của một vật thể từ trạng thái của một vật thể ở rất xa (ảnh: physicsoftheuniverse.com)

Hiệu ứng này, được khẳng định bởi quan sát thực nghiệm, cũng gây ra sự thay đổi nhận thức rằng thông tin về một vật thể không nhất thiết chỉ có thể thay đổi bằng cách tương tác với các vật ngay gần nó. Nó cũng dẫn đến một vấn đề khác là, tốc độ truyền tin giữa 2 vậy thể có vướng víu lượng tử sẽ nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Điều này kỳ dị đến mức mà nhà bác học Einstein gọi nó là “tác động kỳ quái từ xa”.

Sự khác biệt của qubit so với bit cổ điển, không chỉ ở sự biến thiên giá trị liên tục thông qua chồng chập lượng tử, mà còn ở chỗ cùng một lúc nhiều qubit có thể tồn tại và liên hệ với nhau qua hiện tượng rối lượng tử . Sự vướng víu này có thể xảy ra ở khoảng cách vĩ mô giữa các qubit, cho phép chúng thể hiện các chồng chập cùng lúc của nhiều dãy ký tự (ví dụ chồng chập 01010 và 11111). Tính chất “song song lượng tử” này là thế mạnh cơ bản của máy tính lượng tử.

Bằng việc giải các tích phân chuyển động đối với ma trận mật độ, áp dụng các phép gần đúng, người ta đã thấy rằng sự biểu diễn trạng thái trên một qubit tự do còn chịu ảnh hưởng của các trạng thái của qubit khác. Thành lập cụ thể các phương trình này sẽ cho ta cơ chế truyền thông tin của các qubit.

>> Khám phá quan trọng nhất của thời đại: Khống chế năng lượng ‘miễn phí’ từ thinh không

Sự sụp đổ của hàm sóng

Trong thí nghiệm đối với khe đôi lượng tử, các nhà khoa học không chỉ chứng minh được sự tồn tại của lưỡng tính sóng – hạt của vật chất mà  còn phát hiện ra được một vấn đề cũng rất kỳ lạ, đó là hiện tượng sụp đổ của hàm sóng:

Khi phát ra một electron tại một thời điểm, nếu không có sự quan sát của thiết bị và con người tại khe đôi, electron sẽ dường như “tách đôi” và đi qua cả hai khe để tạo ra hiện tượng chồng chập các trạng thái spin lượng tử như là các sóng hạt.

Nhưng khi có các thiết bị quan sát của con người, electron sẽ chỉ đi qua một khe đôi và không gây ra hiện tượng chồng chập sóng hạt ở màn chắn phía sau. Trong trường hợp này, electron hoạt động thuần túy như một hạt, hay có thể nói tính chất sóng của nó đã không còn. Người ta gọi hiện tượng này là sự sụp đổ của hàm sóng.

Trong máy tính lượng tử, việc đo lường trạng thái lượng tử cần được thực hiện để xác định các giá trị qubit tại một thời điểm, điều này dẫn đến sự sụp đổ trạng thái chồng chập của các qubit (decoherence), khiến cho trạng thái chồng chập của qubit diễn ra trong thời gian rất ngắn trước khi sụp đổ và mất nhiều thời gian để khôi phục lại. Đây là một trong những thách thức lớn khi xây dựng các máy tính lượng tử.

Thiện Tâm tổng hợp

Đón xem phần 2: Những mẫu máy tính lượng tử đầu tiên và các ứng dụng

Xem thêm:

The post Máy tính lượng tử là gì và vì sao nó có khả năng tính toán siêu đẳng? appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/may-tinh-tuong-tu-la-gi-va-vi-sao-no-co-kha-nang-tinh-toan-sieu-dang.html/feed0
Thế giới song song có tồn tại và tương tác với thế giới chúng ta, theo các nhà vật lýhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/gioi-song-song-co-ton-tai-va-tuong-tac-voi-gioi-chung-ta-theo-cac.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/gioi-song-song-co-ton-tai-va-tuong-tac-voi-gioi-chung-ta-theo-cac.html#respondMon, 27 Nov 2017 02:28:45 +0000http://trithucvn.net/?p=212274Lý thuyết mới về đa thế giới có thể giải thích rất nhiều phát hiện kỳ lạ trong cơ học lượng tử.

The post Thế giới song song có tồn tại và tương tác với thế giới chúng ta, theo các nhà vật lý appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Lý thuyết mới về đa thế giới có thể giải thích rất nhiều phát hiện kỳ lạ trong cơ học lượng tử.

(Ảnh: peacequarters.com)

Cho đến nay, người ta vẫn cho rằng cơ học lượng tử là một lĩnh vực kỳ lạ và không trực quan, mặc dù đã các vấn đề của nó đã được thí nghiệm kiểm tra rất cẩn thận. Nhà vật lý học nổi tiếng Richard Feyman từng nói, “Tôi nghĩ tôi có thể nói một cách an toàn rằng không ai có thể hiểu được cơ học lượng tử.”

Để giải thích kết quả kỳ lạ của lý thuyết lượng tử, đã xuất hiện một số ý tưởng kỳ lạ không kém, như “luận giải Copenhagen” và “luận giải đa thế giới” (many-worlds interpretation).

Con mèo của Schrödinger – tưởng tượng mơ hồ về sự tồn tại của đa thế giới

Vào năm 1935, nhà vật lí người Áo Erwin Schrödinger đã đề xuất hình ảnh về con mèo trong tưởng tượng của ông để bình luận về sự bế tắc không thể tránh khỏi của các đồng nghiệp khi nói tới cơ học lượng tử:

“Một con mèo được nhốt vào trong hòm sắt, cùng với các thiết bị sau (mà con mèo không thể tác động vào): một ống đếm Geiger và một mẩu vật chất phóng xạ nhỏ đến mức trong vòng một tiếng đồng hồ chỉ có 50% xác suất nó phát ra một tia phóng xạ. Nếu có tia phóng xạ phát ra, ống đếm Geiger sẽ nhận tín hiệu và thả rơi một cây búa đập vỡ lọ thuốc độc xyanua nằm trong hòm sắt và mèo sẽ chết. Nếu trong vòng một tiếng vẫn không có tia phóng xạ nào phát ra, mèo sẽ vẫn sống. Hàm sóng của hệ thống sẽ là sự chồng chập của cả trạng thái con mèo sống và con mèo chết; cả hai trạng thái chồng chập có biên độ như nhau.”

Trạng thái của mèo, mô tả theo luận giải Copenhagen về cơ học lượng tử, là chồng chập của sống và chết, cho đến khi có người mở hòm ra xem. Thế nhưng theo trực giác, trong thế giới vĩ mô, con mèo chỉ có thể ở một trong hai trạng thái cơ bản hoặc sống hoặc chết.

Con mèo của Schrödinger – tưởng tượng mơ hồ về sự tồn tại của đa thế giới (ảnh: wikipedia.org)

Tuy nhiên, theo luận giải đa vũ trụ, mọi sự kiện đều là điểm rẽ nhánh. Trạng thái sống và chết của mèo nằm trên hai nhánh của vũ trụ, cả hai nhánh đều có thật, nhưng không tương tác với nhau. Cả hai trạng thái này, dù sống hay chết, chúng ta chỉ có thể quan sát được một trạng thái duy nhất. Chúng ta có thể chấp nhận rằng tất cả những khả năng trên đều có thật, và chúng tồn tại trong một vũ trụ khác của mô hình đa vũ trụ.

Giải thích của luận giải đa vũ trụ. Theo thuyết này, mọi sự kiện đều là điểm rẽ nhánh. (ảnh: wikipedia.org)

Lý thuyết mới về “đa thế giới tương tác”

Luận giải về đa thế giới trong cơ học lượng tử cho rằng mọi lịch sử và tương lai khác nhau là có thật và mỗi cái trong số chúng đại diện cho một “thế giới” hay một “vũ trụ” độc lập. Luận giải này trong quá khứ chưa được kiểm chứng, vì các thí nghiệm và quan sát lượng tử chỉ được thực hiện trong thế giới của chúng ta. Vì vậy, những hiện tượng trong các thế giới “song song” được đề xuất có thể chỉ là tưởng tượng.

Tuy vậy, gần đây đã xuất hiện một lý thuyết mới, được gọi là lý thuyết “đa thế giới tương tác” (Many Interacting Worlds – MIW). Lý thuyết này gợi ý rằng không chỉ tồn tại các thế giới song song, mà chúng còn tương tác với thế giới của chúng ta ở mức lượng tử và có thể đo đạc  được. Mặc dù nó vẫn chỉ là suy đoán, nhưng lý thuyết này có thể giúp giải thích một số kết quả kỳ lạ vốn có của cơ học lượng tử.

Tháng 3/2014, các nhà khoa học đến từ Trung tâm nghiên cứu cơ học lượng tử, Đại học Griffith, Brisbane, Australia và Khoa toán học, Đại học Davis, California, Hoa kỳ đã công bố báo cáo khoa học được bình duyệt có tên “Hiện tượng lượng tử qua sự tương tác giữa các thế giới” trên tạp chí Ứng dụng vật lý (Aps physic).

Howard Wiseman, một trong các tác giả báo cáo đến từ Đại học Griffith ở Brisbane, Australia, cho biết: “Ý tưởng về các vũ trụ song song trong cơ học lượng tử đã xuất hiện từ năm 1957.Trong ‘Diễn giải đa thế giới’ nổi tiếng, mỗi vũ trụ chia nhánh thành một cụm của các vũ trụ mới mỗi khi đo đạc lượng tử được thực hiện. Mọi khả năng đều được hiện thực hóa – trong một số vũ trụ thì tiểu hành tinh làm khủng long tuyệt chủng đã bay qua Trái Đất, trong một vũ trụ khác, người Australia đang bị người Bồ Đào Nha chiếm đóng…”

“Nhưng các nhà phê bình nghi ngờ về sự tồn tại của các vũ trụ khác, vì chúng không ảnh hưởng chút nào đến vũ trụ của chúng ta”, ông nói thêm. “Về điểm này, cách tiếp cận ‘đa thế giới tương tác’ của chúng tôi là hoàn toàn khác, như ngụ ý trong tên của nó.”

(ảnh: zidbits)

Wiseman và các đồng nghiệp đã đề xuất rằng có một “lực đẩy phổ quát” giữa các thế giới “gần” (các thế giới tương tự nhau), có xu hướng làm cho chúng càng không giống nhau.” Bằng cách phân tích lực này, chúng ta có thể giải thích hiệu ứng lượng tử, các nhà khoa học đề xuất.

Liệu toán học có thể áp dụng và phân tích lý thuyết này hay không, đây sẽ là bài kiểm tra cuối cùng cho lý thuyết này. Nhưng lý thuyết này chắc chắn đã cung cấp nhiều thông tin cho các nghiên cứu tiếp theo.   

Ví dụ, khi được hỏi liệu lý thuyết của họ có liên quan đến khả năng con người có thể tương tác với các thế giới khác hay không, Wiseman nói: “Điều này không nằm trong lý thuyết của chúng tôi, nhưng ý tưởng về sự tương tác [của con người] với các vũ trụ khác không còn là sự tưởng tượng thuần túy nữa.”

>> Nghiên cứu thần kinh học: Có một vũ trụ đa chiều trong bộ não chúng ta

Giải thích về đa thế giới trong tín ngưỡng và tôn giáo.

Nhận thức của cơ học lượng tử về đa thế giới là tương hợp với những điều đã được đề cập từ lâu trong tín ngưỡng và tôn giáo. Những người thực hành tín ngưỡng và tôn giáo đều cho rằng bên cạnh thế giới, vũ trụ mà con người chúng ta đang hiện hữu, có vô số thế giới khác và vũ trụ khác cùng đồng thời tồn tại.

Phật gia giảng rằng, bên cạnh sự tồn tại của không gian và thời gian hiện hữu này của chúng ta, có vô số không gian và thời gian (thời – không) khác đang đồng thời tồn tại, chúng cấu thành nên các thế giới và vũ trụ song song với chúng ta. Bất kể thời-không nào cũng tồn tại các sinh mệnh và những biến đổi tại thời-không kia cũng ảnh hưởng đến thế giới này của chúng ta.

Nhưng vì sao con người không thể khám phá các thời-không khác?

Phật gia giảng rằng các thời-không khác được cấu thành bởi các lạp tử (vi hạt) nhỏ hơn lạp tử cấu thành nên thế giới của chúng ta hiện nay (nguyên tử, phân tử), do đó không thể được quan sát và lý giải bằng khoa học hiện đại của con người.

Nhưng những người thực hành tín ngưỡng và tôn giáo chân chính với con mắt thứ ba được khai mở có thể quan sát thấy các không gian khác và tương tác với những sinh mệnh tại đó. Đây vốn là điều đã được thừa nhận từ lâu trong tín ngưỡng và tôn giáo.

Con mắt thứ ba có thể khiến người ta nhìn thấy các cảnh tượng ở không gian khác của đa thế giới (ảnh: shunynews)

Theo mnn.com
Thiện Tâm tổng hợp

Xem thêm:

The post Thế giới song song có tồn tại và tương tác với thế giới chúng ta, theo các nhà vật lý appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/gioi-song-song-co-ton-tai-va-tuong-tac-voi-gioi-chung-ta-theo-cac.html/feed0
Khám phá quan trọng nhất thời đại: Khống chế năng lượng ‘miễn phí’ từ thinh khônghttps://trithucvn.net/khoa-hoc/kham-pha-quan-trong-nhat-cua-thoi-dai-khong-che-nang-luong-mien-phi-tu-thinh-khong.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/kham-pha-quan-trong-nhat-cua-thoi-dai-khong-che-nang-luong-mien-phi-tu-thinh-khong.html#respondSat, 11 Nov 2017 00:06:51 +0000http://trithucvn.net/?p=207609Trong khi các năng lượng tái tạo hy vọng sẽ thay thế cho nhiên liệu hóa thạch sắp cạn kiệt, thì từ lâu giới vật lý đã bàn tới một thứ gọi là năng lượng…

The post Khám phá quan trọng nhất thời đại: Khống chế năng lượng ‘miễn phí’ từ thinh không appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Trong khi các năng lượng tái tạo hy vọng sẽ thay thế cho nhiên liệu hóa thạch sắp cạn kiệt, thì từ lâu giới vật lý đã bàn tới một thứ gọi là năng lượng “miễn phí”.

năng lượng “miễn phí”
Hình xuyến torus, hình dạng hay được dùng minh họa cho năng lượng “miễn phí” (ảnh minh họa: dreamstime)

Thế giới hiện nay đang hoàn toàn bị che giấu, rằng có nhiều phương pháp tiên tiến tiến hơn để tạo ra năng lượng sạch. Điều này có thể dẫn đến những thay đổi lớn mang tính cách mạng trong thế giới của chúng ta. Đó là năng lượng đến từ không gian vũ trụ hay còn được gọi là năng lượng đến từ Chân Không lượng tử hoặc năng lượng điểm không.

Người ta còn gọi chúng là năng lượng “miễn phí” do không phải tốn năng lượng đầu vào để sản xuất, đồng thời cũng không mất chi phí xử lý các hậu quả về môi trường.

“Thật ngạc nhiên là những khái niệm này đã được chứng minh ở hàng trăm phòng thí nghiệm trên khắp thế giới, nhưng chưa bao giờ được thực sự công bố ra thế giới”Tiến sĩ Brian O’leary

Chân Không lượng tử là gì?

Nguyên lý bất định Heisenberg phát biểu rằng chúng ta càng biết nhiều về một số thứ gì đó trong thế giới lượng tử, thì chúng ta càng biết ít về những thứ khác. Thí dụ, bạn không thể suy luận ra vị trí và năng lượng chính xác của một hạt một cách đồng thời.

Một mối liên hệ tương tự như vậy tồn tại giữa năng lượng và thời gian. Nếu không gian thật sự là trống rỗng, thì nó sẽ có năng lượng đúng bằng không tại một thời điểm được xác định chính xác trong thời gian – cái mà nguyên lý bất định cấm không cho chúng ta biết được.

Như vậy, chẳng có cái gì là chân không cả. Theo lý thuyết trường lượng tử, không gian trống rỗng thật ra đang tràn ngập những vật chất có thời gian sống ngắn, chúng xuất hiện trong khoảnh khắc rồi biến mất trở lại, nói chung là ngăn không cho vũ trụ vi phạm nguyên lý bất định.

“Không có điều nào quan trọng hơn điều này, không gian không trống rỗng, nó là nơi tồn tại của những lý thuyết vật lý phản đảo nhất”John Wheeler.

Chân Không lượng tử được định nghĩa như trạng thái cơ bản tận cùng của vạn vật, nó vô hướng, trung hòa, mang năng lượng cực tiểu hay còn gọi là năng lượng điểm không. Năng lượng điểm không là năng lượng dao động mà các vi hạt còn giữ được ngay cả ở độ 0 tuyệt đối tương ứng với nhiệt độ 0°K hay -273,15°C .

Một trong những minh chứng cho năng lượng điểm không là hiệu ứng Casimir. Hiệu ứng Casimir mô tả: nếu bạn đặt hai tấm kim loại không tích điện mặt đối mặt trong một chân không, thì chúng sẽ tiến về phía nhau bởi một lực tác động tương đương 0,1 gram.

>> Phát hiện tình cờ cho thấy khu kim tự tháp ở Mexico là một cơ sở năng lượng

Khả năng khai thác năng lượng từ Chân Không lượng tử

Một trong những người đầu tiên nói về việc khai thác năng lượng từ Chân Không là nhà phát minh vĩ đại Nicolas Tesla.

“Khi nhiều thế hệ đi qua, máy móc của chúng ta sẽ được vận hành bởi năng lượng đến từ bất cứ điểm nào trong vũ trụ” – Nikola Tesla (nguồn)

Nhiều người tin rằng Đức Quốc xã đã khai thác thành công năng lượng điểm không để chế tạo 3 thế hệ đĩa bay sử dụng động cơ phản trọng lực gắn vũ khí tấn công, có tốc độ bay lên đến 40.000km/h có tên là Haunebu.

năng lượng “miễn phí”
Một số bức ảnh được cho là chụp cảnh vận hành vật thể bay Haunebu thế hệ II của Đức quốc xã (ảnh: discaircraft.greyfalcon.us)
năng lượng “miễn phí”
Một tài liệu được cho là của Đức quốc xã thiết kế vật thể bay Haunebu thế hệ I (ảnh: discaircraft.greyfalcon.us)

Trong quá khứ, đã có rất nhiều các phát minh tạo ra năng lượng “miễn phí” từ Chân Không lượng tử được công bố, nhưng các phát minh ấy đều bị giấu diếm, bị rơi vào quên lãng, thậm chí những nhà khoa học phát minh ra chúng còn biến mất một cách bí ẩn.

Cũng cần lưu ý rằng kể từ khi “Đạo luật Bảo vệ Sáng chế” của Mỹ có hiệu lực vào năm 1951, hơn 5.000 sáng chế đã được liệt vào danh sách bí mật cho đến cuối năm 2014.

Theo báo cáo của Steven Aftergood từ Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ:

“Danh sách các bằng sáng chế năm 1971 chỉ ra rằng bằng sáng chế cho máy phát điện mặt trời đã được xem xét và có thể bị hạn chế nếu hiệu suất quang điện đạt hơn 20%. Các hệ thống chuyển đổi năng lượng cũng phải được xem xét và có thể bị hạn chế nếu chúng đạt hiệu suất chuyển đổi ‘vượt quá 70-80%‘” (nguồn)

>> Monsanto (P2): Lũng đoạn chính sách và thị trường thực phẩm biến đổi gen

Không còn là điều cấm kỵ?

Trong vài năm gần đây, vấn đề khai thác năng lượng miễn phí từ Chân Không dường như đã được giới khoa học dòng chính và các nhà đầu tư quan tâm một cách “nhiệt tình” hơn.

Giáo sư Hassim Haramein là người đang dẫn đầu một nhóm các nhà vật lý, kỹ sư điện, toán học và các khoa học khác để tìm ra các nguyên tắc thống nhất và ý nghĩa của chúng. Trong một cuộc nói chuyện của TEDx tại Đại học California, San Diego, Hoa Kỳ, ông đã tuyên bố:

“Không gian thực sự không trống rỗng, nó đầy năng lượng … Năng lượng trong không gian không phải là vô ích, nó vô tận và chúng ta có thể tính toán được năng lượng có trong không gian và biến nó thành sự thật. Mọi thứ chúng ta thấy thực sự đang nảy sinh từ không gian.” (trích bài nói chuyện TEDx của Nassim).

Một nghiên cứu có tiêu đề “Trích xuất năng lượng và nhiệt từ Chân Không” trên tạp chí Physical Review của Tiến sĩ, Phó giáo sư thuộc Bộ môn Cơ khí tại Đại học Boston – Daniel C. Cole và nhà vật lí Harold E. Puthoff cho thấy:

“Các đề xuất gần đây đã xuất hiện trên truyền thông về việc trích xuất năng lượng và nhiệt từ bức xạ điện từ điểm không qua hiệu ứng Casimir. Nhiệt động lực cơ bản liên quan đến các đề xuất này đã được làm rõ ở đây, với kết luận rằng về nguyên tắc, các đề xuất này là đúng”

Điều này đưa chúng ta tới điểm tiếp theo, rằng các khái niệm này không chỉ đúng về nguyên tắc, mà chúng cũng không còn là lý thuyết nữa.

“Đây không chỉ là những nhà khoa học ngoài lề với ý tưởng viển vông. Đây là những ý tưởng chính thống đang được xuất bản trên các tạp chí vật lý chính thống và đang được giới quân sự và các nhà tài trợ giống như NASA quan tâm nghiêm túc.” Tiến sỹ Harold E. Puthoff

Đã có ví dụ nào về các thiết bị tạo năng lượng “miễn phí”?

Cho đến nay, những thiết bị sản xuất ra năng lượng “miễn phí” đã không còn là điều không tưởng hoặc nằm trên giấy.

Giáo sư Paramahamsa Tewari tại Ấn độ đã thành công trong việc nghiên cứu và chế tạo ra máy phát điện có năng lượng đầu ra lớn hơn đầu vào. Ông gọi nó là “Máy phát điện không có phản lực” (Reactionless Generator). Ông đã có phát minh để triệt tiêu lực Lenz – vốn luôn tồn tại để chống lại mô-men quay của các máy phát điện.

Bạn có thể tham khảo video được trích ra từ bộ phim “Đến từ hư không – Out of The Void”, được công chiếu lần đầu tại Liên hoan phim Quốc tế Vien, ghi lại cảnh chiếc máy đang hoạt động trong thực tế tại nhà máy Kirloskar, Ấn Độ. Tại nhà máy này, kết quả kiểm tra hợp nhất đã được xác nhận.

Nhà phát minh người Thổ Nhĩ Kỳ, Muammer Yildiz cũng đã phát minh thành công máy phát điện từ các nam châm vĩnh cửu. Phát minh của ông đã được trình bày tại trường Đại học kỹ thuật Hà Lan và nhận được sự công nhận và tán thưởng bởi các nhà khoa học tại đây. Muammer Yildiz cũng đã trình diễn sản phẩm này tại triển lãm sáng tạo Thổ Nhĩ Kỳ tháng 1/2013, triển lãm Các nhà Sáng tạo Geneva, Thụy Sĩ tháng 4/2013. Hiện nay, ông đã thành lập công ty HMSB để thương mại hóa sản phẩm này.

Video trình diễn sản phẩm của Muammer Yildiz tại Đại học kỹ thuật Hà Lan:

năng lượng “miễn phí”
Hình ảnh chiếc máy phát điện 1350-1500kW được thương mại hóa bởi công ty HMSB (ảnh: hmsbturk.com)

Bên cạnh đó, Công ty GDS Technology Canada cũng có sản phẩm máy phát điện xách tay công suất 5kW, chạy bằng nước.

năng lượng “miễn phí”
Hình ảnh máy phát điện xách tay công suất 5kW của GDS Technology Canada chạy bằng nước (ảnh: gdstechnologies.ca)

Mặc dù có thể sản xuất ra điện mà không tốn nhiên liệu, các máy phát năng lượng “miễn phí” này hiện vẫn đang có giá thành khá cao do chi phí nghiên cứu phát triển còn lớn. Nhưng giá thành các sản phẩm này sẽ ngày càng giảm hơn trong tương lai không xa.

Thiện Tâm tổng hợp

Xem thêm:

The post Khám phá quan trọng nhất thời đại: Khống chế năng lượng ‘miễn phí’ từ thinh không appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/kham-pha-quan-trong-nhat-cua-thoi-dai-khong-che-nang-luong-mien-phi-tu-thinh-khong.html/feed0
Sự tồn tại của linh hồn không mâu thuẫn với khoa học – một nhà vật lý gạo cội giải thíchhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/su-ton-tai-cua-linh-hon-khong-mau-thuan-voi-khoa-hoc-mot-nha-vat-ly-gao-coi-giai-thich.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/su-ton-tai-cua-linh-hon-khong-mau-thuan-voi-khoa-hoc-mot-nha-vat-ly-gao-coi-giai-thich.html#respondWed, 06 Sep 2017 02:06:38 +0000http://trithucvn.net/?p=172455Henry P. Stapp là một nhà vật lý lý thuyết tại Đại học California ở Berkeley, ông đã làm việc với một số nhà sáng lập cơ học lượng tử. Ông không phải muốn chứng…

The post Sự tồn tại của linh hồn không mâu thuẫn với khoa học – một nhà vật lý gạo cội giải thích appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Henry P. Stapp là một nhà vật lý lý thuyết tại Đại học California ở Berkeley, ông đã làm việc với một số nhà sáng lập cơ học lượng tử. Ông không phải muốn chứng minh rằng linh hồn tồn tại, nhưng ông phát biểu rằng sự tồn tại của linh hồn vẫn phù hợp với các quy luật vật lý.

Nhà vật lý Henry P. Stapp (ảnh: Youtube)

Theo ông Stapp, không đúng khi nói niềm tin vào linh hồn là phản khoa học. Ở đây, chữ “linh hồn” đề cập đến một nhân cách độc lập với bộ não hoặc phần còn lại của cơ thể con người và vẫn có thể tồn tại sau khi người ta chết đi. Trong nghiên cứu “Khả năng tương thích của lý thuyết vật lý đương đại với sự sống sau khi chết”, ông viết: “Người ta nghi ngờ mạnh mẽ về sự tồn tại của sự sống sau cái chết, bởi họ tin rằng nó không phù hợp với các định luật vật lý, sự nghi ngờ này là vô căn cứ”.

Stapp nghiên cứu dựa trên giải thích của Copenhagen về cơ học lượng tử, ít nhiều cũng chính là giải thích mà một số nhà sáng lập cơ học lượng tử sử dụng, bao gồm Niels Bohr và Werner Heisenberg. Ngay cả Bohr và Heisenberg cũng có một số bất đồng về cơ chế của cơ học lượng tử, và sự hiểu biết về lý thuyết lượng tử từ thời điểm đó cũng đã trở nên đa dạng. Nghiên cứu của Stapp về giải thích của Copenhagen cũng có tầm ảnh hưởng rộng, được thực hiện vào những năm 1970 và Heisenberg đã viết một phụ lục trong đó.

Stapp lưu ý về các khái niệm mà ông đưa ra: “Trong các mô tả (hoặc quan niệm) trước đây của tôi về cơ học lượng tử chính thống, không có đả động gì tới quan niệm sự sống sau cái chết.”

Vì sao thuyết lượng tử có thể dung nhập ‘sự sống sau cái chết’

https://trithucvn.net/wp-admin/post-new.php
(Ảnh: MediaBakery)

Stapp giải thích rằng những người sáng lập lý thuyết lượng tử đã yêu cầu các nhà khoa học phải cắt thế giới thành hai phần. Ở phía trên đường cắt, toán học cổ điển có thể mô tả các quá trình vật lý theo kinh nghiệm thực nghiệm. Phía dưới ranh giới, toán học lượng tử mô tả một khu vực không tuân theo toàn bộ các định luật vật lý”

Nói về phạm vi phía dưới đường cắt, Stapp đã viết: “Người ta thường thấy rằng, trạng thái tiến hóa của hệ thống dưới đường cắt không thể phù hợp với mô tả cổ điển bất kỳ về các tính chất mà người quan quan sát nhìn thấy.”

Vậy các nhà khoa học quan sát cái vô hình này như thế nào? Họ chọn các đặc tính cụ thể của hệ lượng tử và thiết lập các thiết bị để xem ảnh hưởng của chúng lên các quá trình vật lý “ở phía trên đường cắt”.

Điều quan trọng là lựa chọn của người làm thí nghiệm. Khi làm việc với hệ lượng tử, sự lựa chọn của người quan sát đã được chứng minh là có ảnh hưởng đến biểu hiện khả kiến ở phía trên đường cắt.

Stapp trích dẫn điều tương tự trong các báo cáo của Bohr về sự tương tác giữa nhà khoa học và các kết quả thí nghiệm: “Giống như một người mù với cái gậy: khi cây gậy được giữ lỏng, ranh giới giữa người mù với thế giới bên ngoài là sự phân chia giữa bàn tay và cây gậy; nhưng khi nắm chặt thì cây gậy thì trở thành một phần của bản thân anh ta: người đó cảm thấy bản thân mình kéo dài đến tận đầu cây gậy.”

Thể xác và tinh thần được kết nối một cách linh hoạt. Về mối quan hệ giữa tâm trí và bộ não, người quan sát thí nghiệm có thể chọn duy trì một loại hoạt động tư duy, nếu không thì tư tưởng của anh ta sẽ suy nghĩ lung tung. Đây là một sự lựa chọn tương tự như khi nhà khoa học quyết định chọn tính chất nào của hệ lượng tử cần nghiên cứu.

Lượng tử có thể giải thích về việc ý thức và não có thể tách rời hay khác biệt, nhưng vẫn nằm trong các quy luật vật lý, “đây là một khám phá được hoan nghênh,” Stapp viết. “Nó giải quyết được vấn đề đã gây đau đầu cho khoa học và triết học trong nhiều thế kỷ – rằng làm khoa học thì bắt buộc phải đánh đồng ý thức và não bộ, hoặc coi não bộ độc lập một cách linh hoạt với ý thức.”

Stapp nói rằng nhân cách của một người chết có thể bám vào một người sống (trường hợp ‘nhập hồn’), đây là điều không trái với các quy luật vật lý. Nó không đòi hỏi sự thay đổi cơ bản nào trong lý thuyết chính thống, nhưng sẽ cần “phải thả lỏng quan niệm rằng các hiện tượng vật lý và tinh thần chỉ xảy ra khi chúng đi chung với nhau.”

Lý thuyết vật lý cổ điển chỉ có thể lảng tránh vấn đề, và các nhà vật lý cổ điển chỉ có thể hạ thấp trực giác như một sản phẩm khi con người bối rối mơ hồ, theo Stapp. Lẽ ra khoa học nên thừa nhận “những ảnh hưởng của ý thức lên vật chất là vấn đề vật lý cần được giải đáp theo những thuật ngữ linh hoạt.”

>> Điều bác sĩ ít tiết lộ: Ghép tạng, ghép cả linh hồn?

Điều này ảnh hưởng thế nào đến nền tảng đạo đức của xã hội?

Để duy trì đạo đức của xã hội, chúng ta không được chỉ coi con người như là các cỗ máy cấu thành từ thịt và máu.

Trong một bài báo khác có tiêu đề “Sự tập trung, mục đích, và ý chí trong Vật lý lượng tử”, Stapp viết: “Hiện nay công chúng nói chung đã tiếp thu quan điểm ‘khoa học’ rằng mỗi con người cơ bản chỉ là một robot cơ học, điều này có tác động đáng kể và ăn mòn nền tảng đạo đức của xã hội.”

Stapp đã viết rằng “người ta có khuynh hướng biện hộ rằng người có lỗi không phải là ‘tôi’, mà là một quá trình cơ học trong cơ thể: ‘các gen đã khiến tôi làm việc đó’; hay ‘lượng đường trong máu cao khiến tôi làm việc đó’”. Ví dụ nổi tiếng là vụ án  ‘Twinkie Defense’ ở California vào cuối thập niên 70, trong đó hung thủ Dan White đã đột nhập vào tòa nhà và bắn chết 2 người. Các luật sư đã thuyết phục quan tòa rằng anh ta bị trầm cảm, dẫn đến tiêu thụ quá nhiều thực phẩm có đường, “một người đàn ông bị thúc ép quá giới hạn chịu đựng.” Cuối cùng, Dan White chỉ bị kết án ‘ngộ sát.’

Tác giả Tara MacIsaac – ET
Thiện Tâm biên dịch

Xem thêm:

The post Sự tồn tại của linh hồn không mâu thuẫn với khoa học – một nhà vật lý gạo cội giải thích appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/su-ton-tai-cua-linh-hon-khong-mau-thuan-voi-khoa-hoc-mot-nha-vat-ly-gao-coi-giai-thich.html/feed0
Lần đầu tiên thực hiện được Dịch chuyển lượng tử giữa Trái Đất và vệ tinhhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/lan-dau-tien-thuc-hien-duoc-dich-chuyen-luong-tu-giua-trai-dat-va-ve-tinh.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/lan-dau-tien-thuc-hien-duoc-dich-chuyen-luong-tu-giua-trai-dat-va-ve-tinh.html#respondWed, 12 Jul 2017 03:52:28 +0000http://trithucvn.net/?p=145593Các nhà nghiên cứu tại Trung Quốc đã thành công trong việc dịch chuyển lượng tử một photon từ Trái Đất lên một vệ tinh cao 500km. Điều này giúp đặt nền móng cho các hệ thống internet lượng tử ở mức độ toàn cầu trong tương lai. Dịch chuyển lượng tử là gì? Thuật …

The post Lần đầu tiên thực hiện được Dịch chuyển lượng tử giữa Trái Đất và vệ tinh appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Các nhà nghiên cứu tại Trung Quốc đã thành công trong việc dịch chuyển lượng tử một photon từ Trái Đất lên một vệ tinh cao 500km. Điều này giúp đặt nền móng cho các hệ thống internet lượng tử ở mức độ toàn cầu trong tương lai.

(ảnh: Pixabay)
(ảnh: Pixabay)

Dịch chuyển lượng tử là gì?

Thuật ngữ này (quantum teleportation) không giống như các loại hình dịch chuyển tức thời mà người ta hay thấy trên phim ảnh, mà nó là một quá trình chuyển giao thông tin lượng tử từ một hạt cho tới một hạt khác trong khi chúng ở rất xa nhau. Về cơ bản nó dựa trên hiện tượng “rối lượng tử” – trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể là thay đổi đồng thời với nhau, bất kể khoảng cách giữa chúng là bao xa.

Dịch chuyển lượng tử bao gồm: làm cho 2 hạt có quan hệ “rối lượng tử” với nhau, sau đó gửi một hạt đi thật xa, rồi thay đổi trạng thái của một hạt và quan sát sự thay đổi ở hạt còn lại. Như vậy, thông tin hai đầu sẽ được mã hóa lượng tử hoàn toàn, chỉ khi bạn biết được trạng thái hạt rối của mình, bạn mới có thể giải mã được thông tin gửi đi và về: điều này sẽ tạo ra được một hệ thống liên lạc hoàn toàn an toàn, bảo mật.

>> 5 khám phá khoa học thách thức các định luật vật lý hiện có

Những bước tiến của dịch chuyển lượng tử

Vào đầu thập niên 1990, các nhà khoa học mới chỉ phỏng đoán rằng khả năng dịch chuyển lượng tử là khả thi. Giờ đây, quá trình này đã trở thành một tiêu chuẩn trong các phòng thí nghiệm quang học lượng tử khắp thế giới.

Chỉ trong 2 năm qua, hai nhóm nghiên cứu riêng biệt đã tiến hành thành công dịch chuyển lượng tử ở bên ngoài phòng thí nghiệm.

Giờ đây, các nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã đẩy quá trình này lên một bước mới: gửi một photon từ Trái Đất lên vệ tinh cao 500km.

Vệ tinh mang tên Micius này là một trạm thu có độ nhạy cao, có thể phát hiện trạng thái lượng tử của một photon bắn lên từ mặt đất. Vệ tinh này đã được phóng lên để phục vụ mục đích kiểm tra nhiều công nghệ lượng tử nền tảng như: rối lượng tử, mã hóa và dịch chuyển lượng tử.

Như vậy, thành công này đã thiết lập hệ thống mạng lưới lượng tử vệ tinh-mặt đất đầu tiên, ở khoảng cách vượt xa kỷ lục 14km thiết lập vào năm 2016.

Sơ đồ của thí nghiệm (ảnh qua Inverse.com)
Sơ đồ của thí nghiệm (ảnh qua Inverse.com)

“Dịch chuyển khoảng cách xa được xem là yếu tố nền tảng trong các giao thức như mạng lưới lượng tử quy mô lớn và tính toán phân tán lượng tử (sử dụng nhiều thiết bị tính toán trên một mạng để thực hiện một nhiệm vụ chung – ND),” nhóm nghiên cứu Trung Quốc phát biểu với trang MIT Technology Review. “Các thí nghiệm dịch chuyển trước đây đều bị giới hạn ở khoảng cách 100km, bởi photon bị mất trong sợi cáp quang hoặc những kênh dẫn dưới mặt đất khác.”

Để thực hiện, ban đầu, nhóm nghiên cứu đã làm cho các cặp photon có “rối lượng tử” với tốc độ khoảng 4000 cặp/giây. Sau đó họ bắn một nửa lên vệ tinh, và giữ lại một nửa. Cuối cùng họ đo lường các photon trên mặt đất và trên vệ tinh để xác nhận hiện tượng rối lượng tử vẫn đang xảy ra.

Trong lý thuyết thì không có giới hạn trong khoảng cách vận chuyển, nhưng hiện tượng rối lượng tử khá mong manh và kết nối có thể bị đứt dễ dàng. Tuy nhiên, tiềm năng của nghiên cứu này là rất lớn, ví như tạo lập các mạng internet lượng tử ở quy mô toàn cầu trong tương lai.

Theo Futurism, Inverse,
Phong Trần tổng hợp

Xem thêm:

The post Lần đầu tiên thực hiện được Dịch chuyển lượng tử giữa Trái Đất và vệ tinh appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/lan-dau-tien-thuc-hien-duoc-dich-chuyen-luong-tu-giua-trai-dat-va-ve-tinh.html/feed0
5 thí nghiệm khoa học chứng minh suy nghĩ của bạn tác động lên vật chấthttps://trithucvn.net/khoa-hoc/5-nghien-cuu-khoa-hoc-chung-minh-y-thuc-tac-dong-len-vat-chat.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/5-nghien-cuu-khoa-hoc-chung-minh-y-thuc-tac-dong-len-vat-chat.html#respondSat, 18 Feb 2017 03:38:25 +0000http://trithucvn.net/?p=97502Càng ngày chúng ta càng biết tới nhiều phát hiện và nghiên cứu khoa học cho thấy ý thức có thể trực tiếp ảnh hưởng đến thế giới vật chất vật lý.

The post 5 thí nghiệm khoa học chứng minh suy nghĩ của bạn tác động lên vật chất appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Càng ngày chúng ta càng biết tới nhiều phát hiện và nghiên cứu khoa học cho thấy ý thức (suy nghĩ, dự định, lời cầu nguyện… ) có thể trực tiếp ảnh hưởng đến thế giới vật chất vật lý.

“Ngày mà khoa học bắt đầu nghiên cứu các hiện tượng phi vật chất, thành tựu đạt được trong một thập kỷ sẽ lớn hơn nhiều thế kỷ trước đó cộng lại. Để hiểu được bản chất thật sự của vũ trụ, người ta phải suy nghĩ dựa trên những yếu tố như năng lượng, tần số và sự rung động,” Nikola Tesla, nhà phát minh vĩ đại đầu thế kỷ 20, người chịu ảnh hưởng bởi Ấn độ giáo và triết lý Vệ đà, đã từng phát biểu như vậy.

Từ lâu, các nhà vật lý đã khám phá mối quan hệ giữa ý thức con người và cấu trúc vật chất. Trước đó, người ta tin rằng vũ trụ vật chất theo giải thích vật lý Newton (vật lý cổ điển) là nền tảng của thực tại vật chất vật lý. Tất cả điều này đã thay đổi khi các nhà khoa học bắt đầu phát hiện rằng mọi thứ trong vũ trụ này được tạo ra bởi năng lượng.

Theo các nhà vật lý lượng tử, các nguyên tử vật chất được tạo ra bởi đám xoáy năng lượng quay và rung động vĩnh viễn. Vật chất ở mức bé nhất có thể quan sát được là năng lượng, và ý thức con người kết nối với chúng, ý thức con người có thể ảnh hưởng đến hành vi, và thậm chí là cấu trúc lại chúng.

Nhiều nhà nghiên cứu trong đó có Albert Einstein, Max Planck và Werner Heisenberg đã phát hiện ra vũ trụ không là một tập hợp của các bộ phận vật lý, mà là từ “rối lượng tử” (entanglement) của các sóng năng lượng phi vật chất.

Dưới đây là 5 thí nghiệm khác được tiến hành gần đây hơn:

1. Thí nghiệm khe đôi lượng tử và hiệu ứng lượng tử Zeno

Thí nghiệm khe đôi lượng tử là một ví dụ tuyệt vời chứng minh mối quan hệ giữa ý thức và vật chất.

Mô tả thí nghiệm: Nếu một người ‘quan sát’ một hạ nguyên tử hoặc một photon đi qua các khe hở, nó sẽ cư xử như một hạt và tạo ra vệt sáng rõ ràng trên màn chắn phía sau. Giống như một viên đạn nhỏ, nó đi qua khe hở này hoặc khe hở kia, một cách rất logic. Nhưng nếu các nhà khoa học không quan sát quỹ đạo của các hạt, nó sẽ cư xử như các sóng và đi qua cả 2 khe hở cùng một lúc. Điều này đã được chứng minh một cách thuyết phục.

Một báo cáo đăng trên tạp chí bình duyệt Physics Essays cho biết thí nghiệm đã được lặp lại nhiều lần và yếu tố ý thức có tương quan mạnh với xáo trộn của các nhiễu xạ trong vệt sáng sau khe đôi.

“Quan sát không chỉ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm mà còn tạo ra kết quả. Chúng ta cưỡng bách các electron để giả định một vị trí nhất định. Chính chúng ta đã tự tạo ra kết quả đo lường,” báo cáo kết luận.

Uranium là nguyên tố không ổn định và phân rã theo thời gian, quá trình này gọi là phân rã phóng xạ. Nhưng năm 1977, các nhà khoa học ở Texas đã phát hiện rằng: sự phân rã uranium sẽ diễn ra một cách bình thường nếu họ không quan sát chúng. Nhưng bất cứ khi nào họ quan sát chúng, quá trình phân rã uranium sẽ không diễn ra như dự tính.

Sau hai ngày quan sát mà không thấy sự phân rã uranium như lẽ thường, phòng thí nghiệm đã báo cáo phát hiện của họ cho các phòng thí nghiệm khác. Các phòng thí nghiệm khác cũng tiến hành thử nghiệm việc quan sát uranium một cách nghiêm ngặt và chặt chẽ. Nhưng tất cả đều có cùng một kết quả: một số nguyên tử uranium sẽ không phân rã nếu ta quan sát chúng.

>> 5 khám phá khoa học thách thức các định luật vật lý hiện có

2. Các thí nghiệm của Mỹ về khả năng di chuyển đồ vật bằng tâm trí

(ảnh minh họa: Flickr)
(ảnh minh họa: Flickr)

Năm 2004, Không quân Hoa kỳ đã giải mật một báo cáo có tiêu đề “Nghiên cứu vật lý Viễn tải” (Teleportation Physics Study) của tiến sĩ Eric Davids, cho thấy các nhà khoa học đã xem khả năng di chuyển đồ vật bằng tâm trí và các hiện tượng cận tâm lý khác là chủ đề nghiên cứu nghiêm túc.

Lấy ví dụ cụ thể, kĩ sư hàng không vũ trụ chuyên nghiệp Jack Houck, cùng đại tá quân đội J.B. Alexander đã tổ chức một số buổi dạy về khả năng di chuyển đồ vật bằng tâm trí và thực hành trên các mẫu vật kim loại như dĩa, thìa. Những người tham gia đã có thể uốn cong hoàn toàn hoặc bóp méo các mẫu vật kim loại mà không sử dụng bất kì lực vật lý nào.

Những buổi như thế này có sự tham gia của các cố vấn khoa học cho chính phủ và quan chức quân sự cao cấp. Thí nghiệm diễn ra tại Lầu Năm Góc, tại nhà riêng của các sĩ quan và nhà khoa học, và tại các trụ sở của Bộ tư lệnh An ninh và Tình báo Lục quân Hoa Kỳ trên toàn thế giới. Các tướng chỉ huy, các đại tá và nhiều sĩ quan đã luôn có mặt. Họ đã chứng kiến và “rất hào hứng” trước sự biến dạng đột ngột của các mẫu vật kim loại.

Video về khả năng của Uri Geller – một nhà ngoại cảm nổi tiếng từng tham gia thí nghiệm của CIA:

3. Các thí nghiệm về dao thị do NSA/CIA kết hợp với Đại học Stanford

Dao thị là khả năng có thể thấy cảnh tượng ở cách xa đến hàng trăm ngàn cây số, thậm trí xa hơn nữa. Khái niệm này đã được biểu diễn, chứng minh và ghi nhận một số lần.

Năm 1995, Cục tình báo trung ương Mỹ CIA giải mật và chấp thuận công bố một số tài liệu tiết lộ về việc tham gia một chương trình bí mật kéo dài 25 năm.

Ingo Swann, một người tham gia thí nghiệm này có thể nhìn thấy được các vòng tròn đặc trưng bao quanh sao Mộc trước khi NASA chụp ảnh nó bằng tàu không gian Pioneer 10. Điều này đã được nghi nhận trong nghiên cứu. Một số cá nhân cũng có thể nhìn được vật thể và con người ở các phòng riêng biệt và hoàn toàn bị chặn từ vị trí người quan sát, điều này rất đáng kinh ngạc.

Ingo Swann trong một thí nghiệm về dao thị (ảnh: rviewer)
Ingo Swann trong một thí nghiệm về dao thị (ảnh: rviewer)

Trong khi một phần của giới khoa học dòng chính tiếp tục nhìn nhận chúng là “ngụy khoa học,” các dự án này kéo dài trong nhiều thập kỷ. Bộ quốc phòng Mỹ coi vấn đề này là cực kỳ nghiêm túc và giữ thông tin ở mức độ tuyệt mật. Chương trình này nằm trong dự án “STARGATE” và đã bị dừng đột ngột.

4. Suy nghĩ và ý định làm thay đổi cấu trúc vật lý của nước

Trong 4 thập kỷ vừa qua, đã có rất nhiều các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của ý thức con người đến tính chất của nước. Người ta muốn tìm kiếm các phương pháp điều trị thay thế cho thuốc, vì khoảng 70% cơ thể người là được tạo thành từ nước.

Viện nghiên cứu khoa học Noetic của Mỹ đã có các thí nghiệm chứng minh rằng ý thức con người có thể ảnh hưởng đến nước, thể hiện qua các tinh thể nước hình dạng khác nhau khi đóng băng. Kết quả đồng nhất của thí nghiệm đều chỉ ra rằng: các suy nghĩ tích cực có xu hướng tạo ra tinh thể nước có tính thẩm mỹ cao, đối xứng và hoàn chỉnh; còn các ý nghĩ tiêu cực có xu hướng tạo thành các tinh thể méo mó, tan vỡ và trông rất xấu.

Cũng tương tự, ở Nhật Bản, Tiến sĩ Masaru Emoto, chủ tịch Học viện Hội Hado Quốc tế (IHM), tác giả cuốn sách “Thông điệp của nước“ cũng đã thực hiện rất nhiều thí nghiệm với tinh thể nước. Ông phát hiện rằng tinh thần không chỉ có thể ảnh hưởng tới vật chất, mà còn ảnh hưởng một cách vô cùng tinh tế, như biểu đạt cảm xúc của bài hát, cảm nhận được nội dung của các từ ngữ, cảm nhận được tình cảm của con người.

Tinh thể nước biểu đạt cảm xúc khi nghe 2 bản nhạc khác nhau trong thí nghiệm của Masaru Emoto (ảnh: masaru-emoto.net)
Tinh thể nước biểu đạt cảm xúc khi nghe 2 bản nhạc khác nhau trong thí nghiệm của Masaru Emoto (ảnh: masaru-emoto.net)

Điều này cũng tương đồng với nghiên cứu về tác động của ý định và niềm tin lên tâm trạng khi uống trà. Nghiên cứu khám phá ra rằng việc uống trà được “đối xử” với một chủ tâm tốt của các nhà sư sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng nhiều hơn so với việc uống trà bình thường.

>>Phong thủy tốt nhất cho cuộc đời bạn – Kỳ IV: Thiện niệm và nước

5. Hiệu ứng giả dược (placebo)

Các nhà khoa học đã ghi nhận rằng chúng ta có thể thay đổi các yếu tố sinh học chỉ đơn giản bằng niềm tin của mình. Phương pháp điều trị bằng hiệu ứng giả dược (placebo) đã cho thấy sức khỏe hoặc hành vi của bệnh nhân trở nên tốt hơn cho dù họ chỉ uống một loại thuốc giả (thuốc không có bất cứ tác dụng nào) và không điều trị bằng bất kỳ loại thuốc hay mũi tiêm nào. Điều này gợi ý đến phương pháp trị bệnh bằng tinh thần. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu ứng giả dược là có thực và có hiệu quả cao.

Một nghiên cứu của trường Y học Baylor, xuất bản năm 2002 trên Tạp chí Y học Anh, đã so sánh các cuộc phẫu thuật cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối nặng. Nhiều bác sĩ phẫu thuật cho rằng không có hiệu ứng giả dược trong trong phẫu thuật và hầu hết họ đều tin như vậy. Các bệnh nhận được chia làm 3 nhóm. Các bác sĩ phẫu thuật tiến nhành cạo lớp sụn bị hỏng ở đầu gối của nhóm thứ nhất. Ở nhóm thứ hai, các bác sĩ bơm chất lỏng vào khớp gối và loại bỏ ra ngoài các chất có thể gây viêm. Cả hai phương pháp này đều quen thuộc cho những người bị viêm khớp gối nặng. Nhóm thức ba nhận được một cuộc phẫu thuật giả, bệnh nhân chỉ được cho dùng thuốc an thần và bị “lừa” rằng họ đã được phẫu thuật khớp gối. Với nhóm thứ ba này, các bác sĩ đã rạch và phun nước muối vào khớp gối giống như trong các cuộc phẫu thuật thông thường. Sau đó họ khâu lại vết hương như thật và kết thúc ca phẫu thuật. Cả ba nhóm sau đó đều trải qua quá trình phục hồi chức năng giống nhau. Và kết quả thật  đáng kinh ngạc: nhóm dùng giả dược cũng có cải thiện giống như 2 nhóm đã được phẫu thuật thật sự.

Hiệu ứng giả dược sẽ không có tác dụng nếu bạn không tin vào viên thuốc mình uống (ảnh: Shutterstock)
Hiệu ứng giả dược sẽ không có tác dụng nếu bạn không tin vào viên thuốc mình uống (ảnh: Shutterstock)

Một báo cáo của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (HHS) trong năm 1999 cũng nhấn mạnh hiệu quả của hiệu ứng giả dược với điều trị trầm cảm. Theo đó, 50% bệnh nhân trầm cảm nặng dùng thuốc có cải thiện bệnh, so với 32% dùng giả dược cũng có tác dụng cải thiện bệnh. Nếu xét đến rất nhiều nguy hiểm và tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm, bạn sẽ chọn dùng phương pháp nào?

Năm 2002 trên Tạp chí Phòng ngừa và Điều trị của Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ, giáo sư tâm lý học Irving Kirsch tại Đại học Connecticut đã có bài viết tựa đề “Liều thuốc mới của Hoàng đế”, đưa ra một số khám phá gây sốc hơn nữa. Ông thấy rằng 80% hiệu quả của thuốc chống trầm cảm, được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng, có thể là do hiệu ứng giả dược. Vị giáo sư này thậm chí đã phải nộp đơn Yêu cầu tự do thông tin (FOIA) để có được thông tin thử nghiệm lâm sàng của các loại thuốc chống trầm cảm hàng đầu.

Cận tâm lý – lĩnh vực khoa học nghiêm túc và đầy tiềm năng

Trên thế giới hiện có rất nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy ý thức con người và thực tại vật chất của chúng ta đan xen và hòa quyện với nhau theo nhiều cách đa dạng: chuyển giao thông tin hay năng lượng bất thường, thần giao cách cảm và các hiện tượng không giải thích được nhưng có thể quan sát hoặc lặp lại trong phòng thí nghiệm.

Chúng được các nhà khoa học gọi chung là các nghiên cứu về parapsychology (tạm dịch: cận tâm lý học, viết tắt là Psi). Bạn có thể tham khảo danh sách nghiên cứu về Psi của Viện nghiên cứu khoa học Noetic của Mỹ, chứng minh rằng ý thức con người và thế giới vật chất vật lý là kết nối lẫn nhau.

Như vậy, ý thức có thể đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi hành tinh của chúng ta. Hãy tìm sự bình an trong nội tâm của bạn, hãy hòa bình, hãy yêu thương… những việc tưởng chừng nhỏ bé trong hành động và sống cuộc sống của bạn lại có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi thế giới này.

Theo collective revolution,
Thiện Tâm tổng hợp

Xem thêm:

The post 5 thí nghiệm khoa học chứng minh suy nghĩ của bạn tác động lên vật chất appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/5-nghien-cuu-khoa-hoc-chung-minh-y-thuc-tac-dong-len-vat-chat.html/feed0
Nhà khoa học nổi tiếng: Ý thức là chìa khóa cho ‘Thuyết Vạn vật’https://trithucvn.net/khoa-hoc/nha-khoa-hoc-noi-tieng-y-thuc-la-chia-khoa-cho-thuyet-van-vat.htmlhttps://trithucvn.net/khoa-hoc/nha-khoa-hoc-noi-tieng-y-thuc-la-chia-khoa-cho-thuyet-van-vat.html#respondThu, 09 Feb 2017 23:30:46 +0000http://trithucvn.net/?p=95066Robert Lanza, 1 trong 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2014 của tạp chí TIME, tin rằng khoa học cần nhận ra vai trò quan trọng của ý thức con người.

The post Nhà khoa học nổi tiếng: Ý thức là chìa khóa cho ‘Thuyết Vạn vật’ appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Tiến sĩ Robert Lanza, người đã được tạp chí TIME đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2014, tin rằng khoa học cần nhận ra vai trò quan trọng của ý thức con người.

Tiến sĩ Robert Lanza, nổi tiếng với nghiên cứu tế bào gốc, tin rằng sinh học sẽ trở nên quan trọng hơn vật lý khi con người tìm hiểu về vũ trụ. (ảnh: Robert Lanza / CC BY-SA 3.0)
Tiến sĩ Robert Lanza, nổi tiếng với nghiên cứu tế bào gốc, tin rằng sinh học sẽ trở nên quan trọng hơn vật lý khi con người tìm hiểu về vũ trụ. (ảnh: Robert Lanza / CC BY-SA 3.0)

Vật lý lượng tử đã chứng minh sự mâu thuẫn với vật lý cổ điển (vật lý học Newton), nó đặt các nhà khoa học vào cuộc tìm kiếm “Thuyết Vạn vật” để thu hẹp sự cách biệt của thuyết tương đối và vật lý lượng tử trong sự hiểu biết khoa học của chúng ta về thế giới.

Đối với Tiến sĩ Lanza, người đã tạo ra bước đột phá trong nghiên cứu tế bào gốc, sinh học sẽ chứng minh rằng nó quan trọng hơn vật lý. Ông cho rằng, thay vì theo đuổi các sợi dây trừu tượng trong những chiều không gian vô hình, việc hiểu cơ thể con người là quan trọng hơn.

“Cho dù là vật lý lượng tử hay vậy lý Newton, chúng đều là hệ thống được tạo ra bởi ý thức của chúng ta.”

Cho dù là vật lý lượng tử hay vật lý Newton (vật lý cố điển), chúng vẫn là hệ thống được tạo bởi ý thức của chúng ta để tổ chức các yếu tố của thế giới này, Lanza nhận định. Chúng ta tạo ra các câu chuyện, chúng ta đặt tên cho các sự vật.

Theo Lanza, việc vũ trụ được điều chỉnh một cách tinh xảo cho sự tồn tại của cuộc sống cũng là dấu hiệu chỉ ra vị trí quan trọng trung tâm của chúng ta giữa vạn vật.

“Cuộc tìm kiếm trường kỳ về Thuyết Vạn vật đang thiếu một thành phần quan trọng, thứ gần đến mức chúng ta quên mất”, Lanza phát biểu trong cuộc nói chuyện được ghi âm tại Hội nghị “Science and Nonduality” năm 2010. “Khoa học đã không nhìn thẳng vào một điều vốn quen thuộc nhất và cũng huyền bí nhất – đó là ý thức”

Nếu bạn không thấy thì nó có tồn tại không?

Thí nghiệm khe đôi nổi tiếng trong vật lý lượng tử là bằng chứng khiến Lanza cho rằng ý thức phải chịu trách nhệm về cách chúng ta nhìn thế giới xung quanh. Các đặc tính cụ thể của sự vật không cố định nội tại mà chúng chỉ tồn tại khi chúng ta quan sát. Tất cả đều liên quan đến quan điểm của người quan sát.

Ông tóm tắt thí nghiệm khe đôi trong cuốn sách xuất bản năm 2010, “Biocentrism: How Life and Consciousness are the Keys to Understanding The True Nature of the Universe”, (tạm dịch: Thuyết sinh tâm – Vì sao Sự sống và Ý thức là chìa khóa để hiểu nguồn gốc chân chính của vũ trụ):

“Nếu một người ‘quan sát’ một hạ nguyên tử hoặc một photon đi qua các khe hở, nó sẽ cư xử như một hạt và tạo ra vệt sáng rõ ràng trên màn chắn phía sau. Giống như một viên đạn nhỏ, nó đi qua khe hở này hoặc khe hở kia, một cách rất logic. Nhưng nếu các nhà khoa học không quan sát quỹ đạo của các hạt, nó sẽ cư xử như các sóng và đi qua cả 2 khe hở cùng một lúc. Điều này đã được chứng minh một cách thuyết phục.”

Lanza mở rộng lý thuyết này vào cuộc sống hàng ngày. Căn bếp nhà bạn có tồn tại nếu bạn không ở đó? Ông viết: “Vào ban đêm bạn tắt đèn và vào phòng ngủ. Tất nhiên, căn bếp vẫn ở đó, khi bạn không nhìn thấy nó suốt cả đêm. Đúng vậy không? Nhưng, thực tế thì tủ lạnh, bếp và mọi thứ khác được tạo thành từ một cụm vật chất/năng lượng lung linh. Các kết quả của vật lý lượng tử như thí nghiệm khe đôi,  nói với chúng ta rằng không một hạt nào trong số các hạt nguyên tử thực sự chiếm một vị trí nhất định. Thay vào đó, chúng tồn tại dưới một loạt các khả năng – như sóng xác suất.”

Trong cuộc nói chuyện tại Hội nghị Nonduality (tạm dịch: Phi nhị nguyên sóng-hạt), ông tóm tắt, “Không tồn tại bất cứ một hạt nào ngoài kia với các thuộc tính của nó cho đến khi chúng ta quan sát.”

Các nhà khoa học đo thông số đã chỉ đơn thuần thiết lập sự phản xạ của logic không gian-thời gian từ tâm trí chúng ta, theo Lanza.

Cuộc sống tồn tại, liệu có phải là bất thường?

Cần có hơn 200 tham số được thiết lập chính xác để sự sống có thể tồn tại, Lanza cho biết. “Nếu vụ nổ lớn (Big Bang) chỉ mạnh hơn 1 phần triệu nữa thôi thì cũng là quá nhanh để có thể tạo ra được các thiên hà và các hành tinh ngoài kia”, ông nói. “Nếu lực hạt nhân mạnh chỉ giảm 2%, các hạt nhân nguyên tử sẽ không thể liên kết vững với nhau, khi đó hydro sẽ là nguyên tố duy nhất trong vũ trụ. Nếu hằng số hấp dẫn giảm chỉ [một chút]… như sợi tóc, thì các ngôi sao bao gồm cả Mặt Trời sẽ không cháy sáng.”

Mặc dù Lanza công nhận có nhiều cách giải thích khác về lý do tại sao các tham số này chính xác đến mức như vậy – bao gồm cả việc Chúa tạo ra vũ trụ, hoặc có rất nhiều vũ trụ và chúng ta chỉ đơn thuần sống trong một vũ trụ có các tham số đúng, ông nghĩ rằng một phần trọng yếu sẽ nằm ở chỗ: ý thức của con người tạo ra các tham số.

>> Chúa và sự đau khổ

Khoa học và đám đông

Trong khi nhiều nhà khoa học đang nói về tầm quan trọng của ý thức trong tương lai của sự phát triển khoa học, tất cả đều không tiếp cận vấn đề như cách của Lanza. Và rất nhiều nhà khoa học cảm thấy khó chịu khi nghe các buổi nói chuyện về ý thức, hoặc rất thận trọng, vì sợ cái nhãn “giả khoa học” mà một số người gán cho lý thuyết của Lanza.

(ảnh: Festival della Scienza /CC BY-SA 2.0)
(ảnh: Festival della Scienza /CC BY-SA 2.0)

Lanza nói với nhà báo khoa học của hãng NBC – Alan Boyle về các đánh giá ông nhận được về cuốn sách, đặc biệt là từ một số nhà vật lý, “Phản ứng của họ cũng giống như phản ứng của các linh mục đối với nghiên cứu tế bào gốc”.

Ngược lại, Boyle trích dẫn một đánh giá bởi Richard Conn Henry, một giáo sư vật lý và thiên văn học tại Đại học Johns Hopkins: “Những gì Lanza nói trong cuốn sách này không phải là mới. Nhưng tại sao ông ấy phải nói ra? Đó là bởi vì chúng ta, các nhà vật lý, không nói – hoặc nếu chúng ta nói về nó, chúng ta chỉ thì thầm, ở nơi kín đáo, đỏ gay khuôn mặt khi thốt ra những lời đó. Điều đó có đúng không, có; nhưng có làm hài lòng tất cả mọi người không… không!”

Theo ET,
Thiện Tâm biên dịch

Xem thêm:

The post Nhà khoa học nổi tiếng: Ý thức là chìa khóa cho ‘Thuyết Vạn vật’ appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/khoa-hoc/nha-khoa-hoc-noi-tieng-y-thuc-la-chia-khoa-cho-thuyet-van-vat.html/feed0
Các nhà vật lý lần đầu tiên quan sát được quang phổ của phản vật chấthttps://trithucvn.net/kinh-te/cac-nha-vat-ly-lan-dau-tien-quan-sat-duoc-quang-pho-cua-phan-vat-chat.htmlhttps://trithucvn.net/kinh-te/cac-nha-vat-ly-lan-dau-tien-quan-sat-duoc-quang-pho-cua-phan-vat-chat.html#respondFri, 23 Dec 2016 02:51:24 +0000http://trithucvn.net/?p=85354Trong một báo cáo công bố ngày 20/12 trên tạp chí Nature, nhóm nghiên cứu ALPHA tại Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) cho biết đã đo lường được quang phổ của một nguyên tử phản vật chất. Thành quả này đánh dấu bước phát triển của công nghệ, mở ra một …

The post Các nhà vật lý lần đầu tiên quan sát được quang phổ của phản vật chất appeared first on Trí Thức VN.

]]>
Trong một báo cáo công bố ngày 20/12 trên tạp chí Nature, nhóm nghiên cứu ALPHA tại Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) cho biết đã đo lường được quang phổ của một nguyên tử phản vật chất.

Thành quả này đánh dấu bước phát triển của công nghệ, mở ra một giai đoạn mới trong lĩnh vực nghiên cứu phản vật chất với độ chính xác cao, đạt được sau 20 năm nỗ lực của các nhà khoa học trong lĩnh vực phản vật chất tại CERN.

Thí nghiệm ALPHA tại CERN (ảnh: CERN)
Thí nghiệm ALPHA tại CERN (ảnh: CERN)

Sơ lược về khái niệm phản vật chất

Trong vật lý lượng tử, để hiểu về phản vật chất, trước hết chúng ta cần hiểu về phản hạt.

Phản hạt (antiparticle) là những hạt có cùng khối lượng nhưng khác dấu với các hạt cơ bản mà ta đã biết. Ví dụ, phản electron còn gọi là positron có cùng khối lượng với electron nhưng mang điện dương.

Một phản electron và phản proton có thể kết hợp với nhau để tạo thành phân tử phản hydro, tương tự như một electron và proton tạo thành hydro thông thường. Vì vậy, theo lý thuyết, phản vật chất và vật chất gặp nhau thì sẽ tiêu hủy lẫn nhau giống như hạt và phản hạt, kết quả phóng ra các photon mang năng lượng lớn (các tia gamma) hoặc các cặp vật chất, phản vật chất khác.

hat-va-phan-hat
(ảnh qua vatlythienvan.com)

Ký hiệu: phản vật chất có ký hiệu giống vật chất nhưng có dấu “-” trên đầu. Ví dụ proton và phản pronton có ký hiệu lần lượt là p và p̅. Một cách viết khác là dựa theo sự trái dấu của điện tích. Ví dụ electron và positron sẽ được ký hiệu là e+ và e-.

Có rất nhiều câu hỏi: vì sao vật chất lại là thành phần chủ yếu tạo nên vũ trụ của chúng ta? Phản vật chất tập trung chủ yếu ở đâu và cách khai thác chúng?… nhưng hiện tại thì vật lý vẫn chưa có câu trả lời.

>> Giải Nobel Vật lý 2016: Lại một lý thuyết cao siêu ít ai hiểu

Đo lường quang phổ của phản vật chất

Theo phys.org, nguyên tử bao gồm các electron xoay quanh một hạt nhân. Khi các electron di chuyển từ quỹ đạo này sang quỹ đạo khác, chúng hấp thu hoặc phát ra ánh sáng ở các bước sóng nhất định, tạo thành quang phổ của nguyên tử đó. Mỗi nguyên tố có một quang phổ độc nhất. Do đó, phương pháp đo quang phổ thường được dùng trong vật lý, thiên văn học, hóa học để định rõ đặc điểm của các nguyên tử, phân tử và trạng thái của chúng. Ví dụ, trong vật lý thiên thể, phân tích quang phổ của các ngôi sao xa xôi giúp các nhà khoa học xác định được thành phần cấu tạo của chúng.

Với 1 electron và 1 proton, hydro là nguyên tử đơn giản, dồi dào và được hiểu rõ nhất trong vũ trụ. Quang phổ của nó đã được đo lường với độ chính xác rất cao. Nhưng nguyên tử của phản hydro thì vẫn còn nhiều bí ẩn.

Bởi vì vũ trụ dường như được cấu thành hoàn toàn từ vật chất, muốn đo lường phản hydro thì phải tạo được phản proton và positron trước, rồi kết hợp chúng lại với nhau. Đây là một quá trình cực kì khó khăn và tỉ mỉ, nhưng có ý nghĩa to lớn, vì qua so sánh quang phổ của hydro và phản hydro, có thể kiểm chứng lại các nguyên lý vật lý cơ bản và tìm hiểu sâu thêm về sự chênh lệch vật chất – phản vật chất trong vũ trụ.

Nhờ Máy giảm tốc phản proton tại CERN, nhóm ALPHA có thể tạo ra nguyên tử phản hydro và giữ chúng trong bẫy nam châm đặc dụng để nghiên cứu bằng laser hay các nguồn phóng xạ khác.

Thí nghiệm ALPHA năm 2016 tại CERN (ảnh: CERN)
Thí nghiệm ALPHA năm 2016 tại CERN (ảnh: CERN)

“Khá dễ để di chuyển và bẫy các phản proton và position bởi chúng có mang điện tích,” Jeffrey Hangst, phát ngôn viên của ALPHA cho biết. “Nhưng khi kết hợp chúng thành phản hydro thì khó bẫy hơn nhiều, vì vậy chúng tôi đã thiết kế một loại bẫy nam châm đặc biệt, bởi phản hydro có một chút từ tính.”

Phản hydro được tạo thành bằng cách trộn lẫn khoảng 90.000 phản proton ở trạng thái plasma với positron, kết quả là khoảng 25.000 nguyên tử phản hydro. Có thể bẫy được phản hydro nếu chúng di chuyển đủ chậm khi được tạo ra. Bằng một phương pháp mới – xếp chồng các phản nguyên tử từ hai vòng pha trộn liên tiếp, các nhà nghiên cứu có thể bẫy trung bình 14 phản nguyên tử ở mỗi lần thử. Qua chiếu rọi bằng tia laser với tần số có độ chính xác cao, các nhà khoa học có thể quan sát tương tác của laser với các trạng thái nội tại của phản hydro.

Kết quả quan sát quang phổ của nhóm nghiên cứu ALPHA

Trong phạm vi của thí nghiệm, kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa quang phổ của hydro và phản hydro. Điều này là phù hợp với Mô hình chuẩn trong vật lý hạt.

Nhóm ALPHA hy vọng sẽ cải thiện độ chính xác của đo lường này trong tương lai, hy vọng quan sát xem vật chất phản ứng khác với phản vật chất như thế nào và lại tiếp tục kiểm chứng Mô hình chuẩn sâu thêm nữa.

Theo phys.org, CERN,
Phong Trần tổng hợp

Xem thêm:

The post Các nhà vật lý lần đầu tiên quan sát được quang phổ của phản vật chất appeared first on Trí Thức VN.

]]>
https://trithucvn.net/kinh-te/cac-nha-vat-ly-lan-dau-tien-quan-sat-duoc-quang-pho-cua-phan-vat-chat.html/feed0