Trong bài phát biểu tại Diễn đàn kinh tế Thế giới ở Davos vừa qua, tỷ phú George Soros đã chỉ trích các công ty internet lớn như Google, Facebook là hiểm họa cho xã hội vì họ không thể gánh nổi “hậu quả của những hành động của họ.” Ngoài ra ông còn cho rằng các hành vi của họ là độc quyền và phản cạnh tranh.

Ông George Soros (ảnh: World Economic Forum swiss-image.ch/Michael Wuertenberg)

Tại diễn đàn, nhà tỷ phú người Hungary nói: “Các công ty mạng xã hội chi phối cách người ta suy nghĩ và hành xử, trong khi người dùng không hề biết”, ông còn nói họ có “những hệ quả tiêu cực sâu rộng đối với các nền dân chủ, đặc biệt là sự ngay chính của bầu cử.”

Ông cũng cho rằng quy mô khổng lồ của Facebook và Google là “cản trở cho sự đổi mới,” kêu gọi giám sát các công ty này chặt chẽ hơn.

Facebook và Google xâm phạm “tự do tâm trí”

Ông chủ của Facebook – Mark Zuckerberg (ảnh: Justin Sullivan/Getty Images)

Ông George Soros chỉ trích tác động của hai công ty lên tâm trí con người, buộc tội họ là lừa người dùng bằng cách “Điều khiển sự chú ý của người dùng và hướng chúng đến những mục đích thương mại của các công ty,” ông nói: “Họ cố ý thiết kế sao cho dịch vụ của họ có tính gây nghiện, cách này rất có hại, đặc biệt là cho trẻ vị thành niên. Có sự tương đồng giữa những trang mạng internet và sòng bạc. Sòng bạc phát triển được những kỹ thuật để giữ người chơi bạc cho đến khi họ hết sạch tiền.”

>> Công nghệ thao túng tâm trí con người như thế nào?

Thậm chí “Mạng xã hội còn đang khiến người ta mất đi sự tự chủ. Một số nhỏ công ty đang thâu tóm dần sức mạnh định hướng sự chú ý của con người” đang đe dọa đến “tự do tâm trí” của con người. Một khi người ta mất đi “tự do tâm trí” này, “những người lớn lên trong kỷ nguyên số sẽ rất khó lấy lại nó được. Điều này có thể gây ra những hậu quả chính trị sâu rộng.”

“Một mạng lưới chuyên chế”

CEO của Google, ông Sundar Pichai (ảnh: Justin Sullivan/Getty Images)

Theo ông George Soros, các chính phủ độc tài và các công ty IT lớn sở hữu nhiều dữ liệu có thể liên kết với nhau để kiểm soát người dân. “Họ có thể tạo ra một mạng lưới chuyên quyền mà ngay cả Aldous Huxley hay George Orwell cũng chẳng tưởng tượng ra được.”

Ông cũng cho rằng lợi nhuận khổng lồ của các công ty công nghệ và sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng là có liên hệ với nhau, rằng lợi nhuận của Facebook và Google là nhờ “né tránh trách nhiệm và né tránh trả tiền cho nội dung trên nền tảng của họ.”

Nhưng ông cho rằng những quy định pháp luật mới sẽ sớm được ban hành: “Sự áp đảo toàn cầu các công ty IT này của Mỹ sẽ sụp đổ, vấn đề chỉ là thời gian. Davos là nơi thích hợp để tuyên bố rằng những ngày tháng còn lại của họ chẳng còn là bao. Các quy định và thuế sẽ làm khó họ, và bà Margrethe Vestager, Ủy viên hội đồng cạnh tranh châu Âu sẽ là khắc tinh của họ.”

Một đại diện của Facebook đã từ chối bình luận. Khi được hỏi ý kiến, một đại diện của Google đã không trả lời ngay.

>> Cựu giám đốc Facebook: Mạng xã hội đang ‘phá hỏng xã hội’

Bạn có thể xem toàn văn bài phát biểu của ông Soros ở đây.

Dưới đây là trích đoạn phần George Soros nói tới các công ty công nghệ (1 số ý được bôi đậm):

Tôi muốn dành phần nhiều thời gian còn lại của mình để nói về một vấn đề toàn cầu khác: sự trỗi dậy và hành xử độc quyền của các công ty nền tảng (platform) IT khổng lồ. Những công ty này thường đóng một vai trò sáng tạo đổi mới và giải phóng. Nhưng khi Facebook và Google đã phát triển thành những công ty độc quyền hùng mạnh hơn bao giờ hết, họ đã trở thành rào cản cho sự sáng tạo đổi mới, và đã gây ra hàng loạt vấn đề mà hiện tại chúng ta mới chỉ bắt đầu nhận thức ra được.

Các công ty kiếm lợi nhuận bằng cách bóc lột môi trường. Các công ty khai khoáng và dầu bóc lột môi trường tự nhiên; các công ty mạng xã hội bóc lột môi trường xã hội. Điều này là đặc biệt tai hại bởi các công ty mạng xã hội chi phối cách người ta suy nghĩ và hành xử, trong khi người dùng không hề biết. Điều này gây ra những hệ quả tiêu cực sâu rộng đối với các nền dân chủ, đặc biệt là sự ngay chính của bầu cử.

Đặc tính riêng biệt của các công ty nền tảng internet chính là: họ là các mạng lưới và được hưởng lợi nhuận biên ngày càng tăng; giúp họ tăng trưởng một cách kỳ diệu. Hiệu ứng mạng lưới này thực sự là chưa từng có và ảnh hưởng sâu rộng, nhưng cũng không bền vững. Facebook mất 8 năm rưỡi để đạt 1 tỷ người dùng, và một nửa chừng đó thời gian để đạt 1 tỷ nữa. Với tốc độ này, trong không đầy 3 năm nữa Facebook sẽ thu hút đến mức tối đa số người trên thế giới.

Facebook và Google kiểm soát hơn một nửa toàn bộ doanh thu quảng cáo internet. Để duy trì vị thế độc tôn của mình, họ mở rộng mạng lưới và tăng cường nắm giữ sự chú ý của người dùng. Hiện tại, họ làm điều này bằng cách cung cấp cho người dùng một nền tảng thuận tiện. Người dùng càng dành nhiều thời gian trên nền tảng của họ, thì càng trở nên có giá trị đối với công ty.

Các nhà cung cấp nội dung cũng đóng góp cho lợi nhuận của công ty mạng xã hội bởi họ không thể né tránh nền tảng này và họ phải chấp nhận bất kỳ điều khoản nào được đưa ra.

Lợi nhuận bất thường của những công ty này chủ yếu là hàm số của việc họ né tránh trách nhiệm – và né tránh trả tiền – cho nội dung trên nền tảng của họ.

Họ tuyên bố chỉ phân phối thông tin. Nhưng thật ra họ là những nhà phân phối gần như độc quyền, làm cho họ trở thành một dịch vụ công và nên chịu những quy định khắt khe hơn nhằm bảo vệ sự cạnh tranh, sáng tạo đổi mới, công bằng và quyền truy cập cởi mở.

Mô hình kinh doanh của các công ty mạng xã hội là dựa trên quảng cáo. Khách hàng thật sự của họ là các nhà quảng cáo. Nhưng dần dần, một mô hình kinh doanh mới xuất hiện, không chỉ dựa trên quảng cáo mà con dựa trên việc bán các sản phẩm và dịch vụ trực tiếp tới người dùng. Họ khai thác thông tin họ nắm giữ, đưa ra các gói dịch vụ, phân biệt đối xử theo giá (discriminatory pricing) để giữ cho mình phần lợi nhuận mà đáng lẽ phải chia sẻ với người dùng. Điều này giúp tăng lợi nhuận thêm nữa – nhưng việc đưa ra các gói dịch vụ và phân biệt đối xử theo giá làm cản trở hiệu quả của nền kinh tế thị trường.

Các công ty mạng xã hội đánh lừa người dùng bằng cách thao túng sự chú ý của họ và hướng chúng đến những mục đích thương mại của công ty. Họ cố ý thiết kế sao cho dịch vụ của họ có tính gây nghiện, cách này rất có hại, đặc biệt là cho trẻ vị thành niên. Có sự tương đồng giữa các nền tảng trên internet và sòng bạc. Sòng bạc phát triển được những kỹ thuật để giữ người chơi bạc cho đến khi họ hết sạch tiền, kể cả tiền không phải của họ.

Một điều rất độc hại và có thể gây tác động vĩnh viễn, đang xảy ra với khả năng tập trung của con người trong thời đại kỹ thuật số. Không chỉ là gây sao nhãng hay gây nghiện – các công ty mạng xã hội đang làm cho con người mất đi sự tự chủ. Một số nhỏ công ty đang thâu tóm dần sức mạnh định hướng sự chú ý của con người. Chúng ta sẽ phải rất vất vả để khẳng định và bảo vệ điều John Stuart Mill gọi là “tự do tâm trí”. Có khả năng là một khi mất đi, những người lớn lên trong kỷ nguyên số sẽ rất khó lấy lại nó được. Điều này có thể gây ra những hậu quả chính trị sâu rộng. Người không có tự do tâm trí sẽ rất dễ bị thao túng. Mối nguy hiểm này không chỉ hiện hữu trong tương lai – nó đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2016.

Nhưng trước mắt còn có một viễn cảnh đáng báo động hơn nữa. Các chính phủ độc tài và những công ty độc quyền khổng lồ, giàu dữ liệu này có thể liên kết với nhau để tạo ra các hệ thống giám sát kết hợp với hệ thống kiểm soát người dân của chính phủ. Họ có thể tạo ra một mạng lưới chuyên quyền mà ngay cả Aldous Huxley hay George Orwell cũng chẳng tưởng tượng ra được.

Những nước mà cuộc hôn nhân ma quỷ này dễ xảy ra nhất là Nga và Trung Quốc. Đặc biệt, các công ty IT Trung Quốc là mạnh ngang cơ với các công ty của Mỹ. Họ được hưởng sự hỗ trợ và bảo vệ toàn diện của chính quyền Tập Cận Bình. Chính phủ Trung Quốc đủ mạnh để bảo vệ những nhà vô địch quốc gia của họ, ít ra là trong phạm vi biên giới Trung Quốc.

Các công ty IT độc quyền của Mỹ đã bị dẫn dụ để thỏa hiệp và bước vào những thị trường rộng lớn và tăng trưởng nhanh chóng kia. Những nhà lãnh đạo độc tài ở các quốc gia này hẳn sẽ hết sức vui mừng được hợp tác vì các quốc gia ấy muốn cải thiện phương pháp kiểm soát đối với dân chúng và mở rộng quyền lực cũng như tầm ảnh hưởng ở Mỹ và toàn bộ thế giới.

Những ông chủ của các nền tảng khổng lồ này xem bản thân họ như là người chủ của vũ trụ, nhưng thật ra, họ là kẻ nô lệ cho việc duy trì vị thế độc tôn của mình. Sự áp đảo toàn cầu của các công ty IT Hoa Kỳ sẽ sụp đổ, vấn đề chỉ là thời gian. Davos là nơi thích hợp để tuyên bố rằng những ngày tháng còn lại của họ chẳng còn là bao. Các quy định và thuế sẽ làm khó họ, và bà Margrethe Vestager, Ủy viên hội đồng cạnh tranh châu Âu sẽ là khắc tinh của họ.

Người ta cũng đang thấy rõ rằng lợi nhuận khổng lồ của các công ty công nghệ và sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng là có liên hệ với nhau. Một phần là vì sở hữu cổ phần tập trung trong tay một vài cá nhân, một phần lớn hơn là do vị thế đặc biệt mà các gã khổng lồ IT chiếm đóng. Họ đã giành được sức mạnh độc quyền, nhưng đồng thời, họ cũng đang cạnh tranh với nhau. Họ đủ lớn để nuốt chửng các công ty khởi nghiệp có tiềm năng trở thành đối thủ cạnh tranh, nhưng chỉ những công ty khổng lồ mới có đủ nguồn lực để xâm chiếm lãnh địa của nhau. Họ đang chạy đua để chiếm lĩnh lãnh địa mới mà trí tuệ nhân tạo đang mở ra, ví dụ như công nghệ xe tự lái.

Ảnh hưởng của đổi mới sáng tạo đối với nạn thất nghiệp là phụ thuộc vào chính sách của chính phủ. Liên minh châu Âu, đặc biệt là các quốc gia Bắc Âu, có tầm nhìn chính sách xã hội xa hơn rất nhiều so với Hoa Kỳ. Họ bảo vệ cho công nhân, chứ không phải công việc. Họ sẵn lòng chi tiền để tái đào tạo hoặc đảm bảo lương hưu cho những công nhân bị mất việc. Điều này giúp cho công nhân ở các quốc gia Bắc Âu cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều và ủng hộ hơn đối với những đổi mới sáng tạo trong công nghệ so với công nhân ở Hoa Kỳ.

Các công ty độc quyền internet không có nguyện vọng cũng như dự định phải bảo vệ xã hội khỏi những hậu quả do họ gây ra. Điều này biến họ thành một mối đe dọa, và những nhà lập pháp cần có hành động để bảo vệ xã hội. Ở Mỹ, các nhà lập pháp không đủ mạnh để chống lại ảnh hưởng chính trị của họ. Liên minh châu Âu thì có lợi thế hơn bởi họ không có công ty nền tảng khổng lồ nào.

Liên minh châu Âu định nghĩa về sức mạnh độc quyền khác với Hoa Kỳ. Luật pháp Hoa Kỳ chủ yếu tập trung vào độc quyền do thâu tóm, trong khi luật Châu Âu nghiêm cấm việc lạm dụng quyền lực độc quyền bất kể là từ phương cách nào. Châu Âu có pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu khắt khe hơn so với Hoa Kỳ. Ngoài ra, luật pháp Hoa Kỳ có một học thuyết kỳ lạ: nó đo lường tác hại dựa trên mức giá tăng mà người dùng phải chi trả – và điều này gần như không thể chứng minh tác hại của các dịch vụ được cung cấp miễn phí. Như vậy, người ta cũng không xem xét đến các dữ liệu quý giá mà các công ty nền tảng thu thập.

Ủy viên Vestager là nhà vô địch trong việc áp dụng cách hành xử của Châu Âu. Châu Âu đã mất 7 năm trong vụ việc chống lại Google, nhưng nhờ vào thành công của bà, quá trình đã được đẩy nhanh hơn rất nhiều. Nhờ vào sự vận động của bà, cách làm của châu Âu đã bắt đầu ảnh hưởng tới thái độ của Hoa Kỳ.

Theo Business Insider
Thành Đô

Xem thêm: