Trong cuộc tranh luận về Tiếq Việt, phải chăng chúng ta nên nhìn lại nghiên cứu của nhà sử học Milton E. Osborne về những thiếu sót của chữ quốc ngữ? Chữ quốc ngữ hẳn là đã cho Việt Nam một lợi thế lớn, nhưng cũng khiến chúng ta đánh mất đi những điều không hề nhỏ – những điều mà Pétrus Ký và các cộng tác viên của ông đã từng muốn bổ khuyết… Có lẽ câu hỏi cần được suy tư là: Chúng ta làm sao để bù đắp được phần thiếu sót đó?

Dưới đây là lược trích bản dịch chương 8 trong cuốn khảo cứu nổi tiếng của tác giả Milton E. Osborne, nhan đề “The French Presence in Cochinchina and Cambodia, Rule and Response (1859-1905)” (Tạm dịch: Sự hiện diện của người Pháp tại Nam Kỳ và Campuchia, luật lệ và phản ứng) thảo luận về vai trò và ảnh hưởng của Quốc Ngữ trong giai đoạn ban đầu của sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam. Đây là bản dịch của dịch giả Ngô Bắc đăng tải toàn bộ tại gio-o.com (Xem đầy đủ tại đây)

*******

Vào khoảng thập niên đầu tiên của thế kỷ hai mươi, các nỗ lực bền bỉ của chính quyền Pháp tại Nam Kỳ để thiết lập một chương trình giáo dục hữu hiệu, sau hết, đã mang lại một vài sự thành công. Pétrus Ký đã nhìn quốc ngữ như một phương cách chắc chắn để giải phóng xứ sở của ông ra khỏi các gông cùm của quá khứ. Trong khoảng đầu thế kỷ thứ hai mươi, nhiều người đã chia sẻ quan điểm của ông và đã nhìn định mệnh của Nam Kỳ là được nối kết với nước Pháp. Sự giải thoát mà nhiều kẻ khác đã trải qua dẫn họ đến việc tìm kiếm một mục đích rất khác biệt. Sự hợp lý của sự giao tiếp thực dân tại Nam Kỳ bảo đảm rằng các kẻ khởi xướng đầu tiên của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa tân tiến đặc biệt phát sinh từ nhóm nhỏ các người Việt Nam có thể sử dụng quốc ngữ và tiếng Pháp. Tác động của giáo dục hiện đại đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên Việt Nam vào các thập niên 1920 và 1930. Trong cả hai thập niên đó và trước đó nữa, việc tìm cách thay đổi tại Nam Kỳ đã được lãnh đạo, trong phần lớn, bởi các người đã trải qua nền giáo dục do người Pháp chỉ huy. Hệ thống giáo dục này, ngày càng gia tăng nhiều hơn trong những năm sau năm 1879, đã nhấn mạnh đến phẩm chất trên số lượng.

[…]

Chúng ta lấy các trẻ em khỏi làng xã của chúng ở tuổi từ tám đến mười tuổi; chúng ta gửi chúng đến các trường hàng tổng của chúng ta, từ đó chúng ra trường sau khi học việc đánh vần một cách đầy khó nhọc ít hàng chữ từ tờ Gia Định Báo.

Sự giáo dục của các đứa trẻ này hiếm khi nào đi xa hơn thế.

Chúng không thu đạt được bất kỳ khái niệm nào về đạo đức, hay về nền giáo dục đặc biệt vốn được kính trọng biết bao bởi người An Nam.

Đa số quay trở về làng của chúng sau khi đã mất một hay hai năm trong cung cách này và mang lại cho gia đình của chúng, xuyên qua cái vẻ tự mãn và sự ngu dốt mà chúng biểu lộ, một hình ảnh đáng buồn về hệ thống giảng dạy công cộng của chúng ta. Lại nữa, chúng ta thường nhìn thấy xảy ra việc mà Luro đã ghi nhận mười lăm năm trước đây: các cha mẹ đã gửi con em họ trở lại các trường dạy chữ nho sau khi chúng rời các trường học của người Pháp chúng ta.

Giáo dục và chữ quốc ngữ: Một sự chiến thắng hạn chế (Trích lược)
Tờ Gia Định Báo. (Ảnh qua Soi.today)

Xem thêmXét xử phúc thẩm blogger Mẹ Nấm-Như Quỳnh: Y án sơ thẩm 10 năm tù

Sự thừa nhận của Richaud rằng nền giáo dục do Pháp bảo trợ không đáp ứng các nhu cầu của dân chúng Việt Nam đã là một sự giải thích căn bản cho những vấn đề của nhà cầm quyền. Song, ngay vào lúc ông ta đưa ra sự nhận xét này, nhiều yếu tố đã tác động để chứng thực cho sự lượng định của ông. Giáo dục của Pháp cung cấp một con đường tiến vào nền hành chính thuộc địa. Trong thực tế, với ít ngoại lệ, không có chỗ cho những người Việt Nam không sử dụng quốc ngữ, ở mức tối thiểu. Trừ khi một gia đình Việt Nam giàu có đủ để gạt bỏ vấn đề công ăn việc làm, lối đi xuyên qua hệ thống giáo dục công lập đã cung cấp một con đường chắc chắn nhất để kiếm được một công việc và số thu nhập cho những người mong muốn nhiều hơn một cuộc đời sống bằng nghề nông. Sự giảng dạy nhấn mạnh đến đạo đức có thể vẫn còn được ngưỡng mộ, nhưng các sự cứu xét thực tế đã đặt ra các đòi hỏi mạnh hơn. Các số thống kê cung cấp về giáo dục tại thuộc địa thường không thỏa đáng, nhưng xem ra không có lý do để thắc mắc về sự sụt giảm mau lẹ số các trường học dạy Hoa ngữ vào lúc tiến đến cuối thế kỷ.

[…]

Bô ba văn học Pétrus Ký, Paulus Của và Trương Minh Ký đã đóng góp khối lượng đồ sộ các bản văn mới bằng quốc ngữ, nhưng trong sự phát triển cách ký tự, sự đóng góp của người Pháp thì đáng kể: chỉ riêng họ đã tham gia vào cuộc thảo luận gay gắt về các sự thay đổi có thể được du nhập vào sự ký tự chuyển âm tiếng Việt.

Vấn đề có tầm quan trọng hơn nhiều được đề cập đến là liệu quốc ngữ sẽ trở thành hình thức chữ viết tiêu chuẩn trên toàn cõi Việt Nam hay không. Các học giả, các nhà hành chính, và các giáo sĩ truyền đạo đã tranh luận về phương cách thích hợp để la mã hóa tiếng Việt, nhưng ít có ảnh hưởng thực tế. Aymonier, một người tìm hiểu thâm sâu về lịch sử và bia ký Căm Bốt, biện luận mạnh mẽ cho một cách ký tự mới mang nhiều cách phát âm của Pháp ngữ hơn hệ thống đương thời, vốn du nhập các giá trị phát âm từ tiếng Bồ Đào Nha. Nhà truyền giáo học giả tiếng tăm, Linh Mục Léopold Cadière đã chia sẻ một số quan điểm của Aymonier, và đã tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Viễn Đông Học (International Congress of Far Eastern Studies) năm 1902 khi cơ quan đó kêu gọi Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp (École Francaises d’Extrême-Orient) hãy phát kiến ra một cách ký âm chuyển âm “hợp lý” hơn cho tiếng Việt. Trong thực tế, đã không có gì xảy ra. Bất kể các khiếm khuyết nào đi nữa của cách ký tự tiêu chuẩn, nó đã trở thành hình thái được thiết định.

[…]

Ngay cả cộng tác viên Công Giáo [Trần Bá] Lộc đã bày tỏ sự dè dặt về sự thiếu vắng nội dung đức dục trong một hệ thống giáo dục được giảng dạy xuyên qua quốc ngữ. Ông ta không quan tâm cho các đồng đạo Công Giáo; họ đã có một tín ngưỡng thay thế cho các châm ngôn của triết lý Khổng học. Nhưng với sự bãi bỏ việc giảng dạy chữ nho, đã có một nhu cầu, ông đã lập luận trong năm 1879, để cung cấp cho các “kẻ ngoại đạo” (pagans) một văn chương bằng quốc ngữ để khắc ghi năm đức tính về tình nhân loại, lẽ công bằng, phép lịch sự, sự cẩn trọng, và lòng trung thành. Đến một số mức độ, đây cũng là điều mà Pétrus Ký và các cộng tác viên của ông cố gắng muốn làm như thế. Đã có một âm điệu đức dục mạnh mẽ trong các tập tiểu luận của họ. Nhưng vào lúc bước sang thế kỷ mới đã có bằng có rằng các thành viên thuộc giới tinh hoa Việt Nam tại thuộc địa ở Nam Kỳ đã lấy làm bất mãn bởi sự khiếm khuyết nội dung đạo đức trong các ấn phẩm hiện hữu. Người con trai của ông Lộc, tên Thọ, phàn nàn về sự thiếu sót của ấn phẩm chính thức, Gia Định Báo, nhận xét, một cách khá chính xác, rằng nó không còn chứa đựng điều gì ngoài các thông báo chính thức và các sự quảng cáo các dược phẩm có cầu chứng bằng sáng chế. Nó “không còn giảng dạy được bất cứ điều gì cho người An Nam.”

Trong năm 1908, không lâu trước khi từ trần, ông Thọ đã ấn hành một bài nghiên cứu dài trong đó ông đã cố gắng trích tập nhiều câu chuyện đã được dùng để giảng dạy các đức tính Khổng học nhưng không được cung cấp bằng quốc ngữ. Trong lời đề tựa công trình này, ông lập luận rằng việc thiếu sự lễ độ được biểu lộ bởi người Việt nói tiếng Pháp phát sinh từ sự cô lập của họ khỏi sự giảng dạy bằng chữ nho, với lớp tô trát đức dục của nó. Để cho trọn vẹn, người con trai của Trần Bá Lộc giờ đây lập luận cho sự quay về một số việc giảng dạy bằng chữ nho để ngăn chặn trẻ em đánh mất hoàn toàn sự tiếp xúc với quá khứ của đất nước và các phong tục của nó. Phản ảnh các sự quan sát của người cha, ông chấp nhận rằng có thể giảng dạy luân lý đạo đức Khổng học bằng quốc ngữ, nhưng ông ghi nhận một sự thiếu sót các sách dạy để làm việc như thế.

Không phải mọi người thuộc thế hệ ông Thọ đều chia sẻ quan điểm của ông ta. Ông Hôi Đồng Diệp Văn Cương, phát biểu tại Hội Đồng Thuộc Địa năm 1906, nhìn thấy không có lý do gì khiến không thể giảng dạy các châm ngôn của triết lý Khổng học bằng tiếng Pháp, “công cụ của nền văn minh.” Ông Lê Văn Phát, bất kể sự nhấn mạnh trước đây của ông về nhu cầu cho người Pháp phải học hỏi một số điều gì đó của đời sống gia đình nơi xứ sở mà họ đến cai trị, nhìn thấy ít giá trị trong việc giảng dạy các giá trị đạo đức cổ truyền tại các trường học. Ông nêu câu hỏi, giá trị đạo đức và nội dung đức dục của tư tưởng Pháp có bất kỳ điều gì kém giá trị hơn hay sao? “Khi đó, tại sao chúng ta không tìm học về luân lý đạo đức này, tấm bùa linh thiêng mới này đã tác động để mang lại rất nhiều điều kỳ diệu tại Pháp, hầu tự mình đồng hóa toàn diện vào chúng, trong tư tưởng cũng như hành động.”

[…]

Tất cả đều là công việc của chúng ta, và nguyên do chính yếu của nó, là sự ám ảnh của chúng ta về việc truyền giáo, sự si mê của chúng ta về việc đồng hóa.

Xã hội An Nam cổ truyền, được tổ chức quá hoàn hảo để thỏa mãn các nhu cầu của người dân, nói cho cùng, đã bị phá hủy bởi chúng ta.

Sự kiên quyết của Pháp đối với các mục đích đồng hóa trong chính sách giáo dục đã giúp cho chính quyền thuộc địa khắc phục được các trở ngại một cách khác có thể đã ngăn trở các nỗ lực của họ. Sự tin tưởng rằng một số lượng quan trọng người Việt Nam sẽ phải nói tiếng Pháp không bao giờ biến mất. Niềm tin rằng một cách ký âm bằng mẫu chữ la mã tiếng Việt thì đáng mong ước trong thực tế và là một vũ khí hữu hiệu để đối đầu với tư tưởng Khổng học đã mang lại sự chiến thắng tối hậu cho quốc ngữ. Phần lớn các nhà quan sát Pháp đương đại tin tưởng rằng chính sách của họ là một sự thành công. Các sự khó khăn được ghi nhận, nhưng bị bác bỏ như là có tính cách nhất thời hay tầm thường. Sự loại bỏ nội dung đạo đức ra khỏi nền giáo dục mới là một sự tổn thất từ sự “tiến bộ.” Đây chính là tình trạng trước nó, nhà quan sát vô danh đã phản ứng khi ông ta phàn nàn về sự phá hủy toàn bộ xã hội Việt Nam. Song, sẽ là sự sai lầm nếu không đếm xỉa đến sự chiến thắng phần nào trong các mục tiêu giáo dục của Pháp và đi đến sự kết luận với một sự ghi nhận hoàn toàn tiêu cực. “Nỗi si mê cho việc đồng hóa” đã mang kiến thức mới đến Việt Nam, và sự khuếch tán của nó xuyên qua sự sử dụng rộng rãi cách ký âm theo mẫu tự la mã đã đóng một vai trò sinh tử trong sự thành hình một Việt Nam hiện đại. Các biến cố của thế kỷ thứ hai mươi, mặc dù phần lớn không được ghi chép trong cuộc khảo cứu này, tạo thành hồi kết cuộc mang tính chất bản thể của những sự thay đổi đã được trui rèn trong năm chục năm đầu tiên của sự giao tiếp thời thuộc địa.

Xem thêm: