Trịnh Công Sơn và những linh cảm giấc mơ đời hư ảo

Lời tòa soạn: Trịnh Công Sơn được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của âm nhạc đại chúng, Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Nhạc của ông mang lại cho người nghe rất nhiều suy tư về một thời kỳ đầy biến động của đất nước. Độc giả Nguyễn Văn Chương muốn chia sẻ với bạn đọc một cách nhìn khác về nhạc phản chiến của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mà theo bài viết phải gọi đó là “mơ ước” và “linh cảm” cho một tương lai đầy đau xót.

*********

Nhiều người đã viết về Trịnh Công Sơn. Người ta nhìn anh dưới nhiều góc độ khác nhau: Trịnh Công Sơn, một người ca thơ về Tình yêu, về xót xa phận người, về một quê hương chiến tranh tan rã, một nhạc sĩ chủ đạo dòng nhạc phản chiến…

Trịnh Công Sơn

Để góp một phần nhỏ, tôi xin được phép nhìn Trịnh Công Sơn dưới góc độ một người đi trước thời đại anh, bằng những linh cảm diệu kỳ của một tên hát rong, như anh đã từng bộc bạch, “Tôi chỉ là tên hát rong đi qua miền đất nầy để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo.” Nhưng cũng có những trường hợp anh ghi lại những gì chính mắt mình nhìn thấy thực sự như cảnh người chết trôi sông kể lại trong bài Hát Trên Những Xác Người, trong vụ thảm sát Tết Mậu Thân 1968 tại cố đô Huế :

Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy,
Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em.

(Hát Trên Những Xác Người)

Hay là :

Tôi đi giữa những căm hờn đành không lên tiếng.
Trong tim đau từng vết đạn
Câu than van nhiều khi dấu kín
Ai khoe khoang dân mình đã chết oan.

(Quê Hương Đau Nặng)

Viết về một người bình thường đã khó; viết về một người tài hoa như nhạc sĩ Trịnh công Sơn, đối với tôi, lại càng khó hơn. Bởi tôi chỉ biết Sơn qua sách báo, nhất là qua ca từ một số nhạc phẩm của anh; như nhận xét của Bùi Bảo Trúc, “Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người mà ai cũng biết; nhưng cũng không ai biết về ông bao nhiêu, ngoài gia đình và một vài người bạn rất thân”. Ca từ những nhạc phẩm Trịnh Công Sơn thì mượt mà, sâu lắng, bóng bẩy, ý nghĩa lãng đãng mênh mông. Anh dùng nhiều mỹ từ pháp như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, nhân cách hóa… khiến lời văn trở nên trau chuốt mượt mà, bâng khuâng man mác, lâng lâng mơ màng, chơi vơi dìu dặt, lời ca và âm nhạc quyện vào nhau thành một chỉnh thể không sao tách ra được. Bởi vậy không ai dám chắc rằng mình đã hiểu gì chính xác qua những ca từ nhạc phẩm Trịnh Công Sơn. Khi đọc những lời ca ấy, mặc dù không hiểu người nhạc sĩ muốn nói gì; nhưng người đọc vẫn muốn đọc và vẫn muốn nghe :

Em hai mươi tuổi em là nắng
Em hai mươi tuổi em là mưa
Sài Gòn nắng mưa em ngày ấy
Còn là hạt bụi giữa hư vô

(Hai Mươi Mùa Nắng Lạ, 1995)

Cũng có những trường hợp nếu không được ai đó hay chính tác giả cho biết ngọn nguồn thì người ta cũng không thể hiểu hay hiểu nhầm, như “nhìn những lần thu đi”, “trời cao níu bước sơn-khê” hay “nhớ một người để nhớ mọi người”… Chừng ấy thôi mà chẳng ai hiểu giống ai!

Theo Nguyễn Thanh Ty, bạn thân của Sơn thì thu là tên mấy người bạn gái cùng học tại Trường Sư Phạm Quy Nhơn với anh chứ thu không phải là một trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông như chúng ta thường hiểu! Có vậy ta mới có thể hiểu được: “Nhìn những lần thu đi / Tay trơn buồn ôm nuối tiếc”. Nhìn những lần thu đi, chữ đi nó gần gũi với con người hơn mặc dù đôi lúc đôi nơi người ta vẫn nói thời gian đi, thời gian qua. Ở đây lại là những lần thu đi (ngang qua cửa lớp học của Sơn). Hơn thế câu: “Tay trơn buồn ôm nuối tiếc” sẽ giúp ta hiểu rõ hơn… Lúc đó Sơn vẫn còn là một thư sinh, sự nghiệp chưa thành thì người đẹp chỉ là một bóng mơ diệu vợi xa xôi, làm sao nắm bắt được, thì đành phải “Tay trơn buồn ôm nuối tiếc”!

Có lần một người bạn tôi giãi thích: “trời cao níu bước sơn khê”. Bước sơn khê là bước chân của Sơn và của cô bạn gái tên Khê (Tôn Nữ Bích Khê) cùng học Sư Phạm với Sơn. Cũng theo Nguyễn Thanh Ty, sau khi nhạc phẩm Biển Nhớ ra đời, tầm năm 1970 thì bước chân Sơn Khê râm ran trong đám bạn bè. Và lúc ấy, Nguyễn Thanh Ty có hỏi Trịnh Công Sơn về tin đồn này thì Sơn khẳng định đây chỉ là sự tình cờ, nghĩa là sơn khê chỉ có nghĩa bình thường của nó: núi khe thế thôi (“Từ Diễm Xưa đến Một Cõi Đi Về”, Nguyễn Thanh Ty).

Và có một lần tình cờ tôi mở một VCD ra nghe thì thấy Trịnh Công Sơn đang trả lời phỏng vấn cho một người nào đó tôi không thấy mặt, có lẽ đó là MC Thanh Bạch. Người ấy hỏi, “Nhớ một người để nhớ mọi người. Vậy người ấy là ai?” Trịnh Công Sơn trả lời, “Khi mình nhớ một người thân quen nào đó thì cũng có nghĩa là mình nhớ đến những người mình đã quen, mình nhớ đến cả một cộng đồng. Thế thôi.”

Tình yêu của Sơn mang tính phổ quát là thế. Ý tưởng nầy cũng được nhà thơ Anh Ngọc sẻ chia , “Cái gốc yêu thương của ông là yêu từng con người cụ thể, bé nhỏ, mong manh, nhọc nhằn… trên cơ sở đó mới yêu thương mọi người.” Ở Sơn ngoài tài năng thiên bẩm về âm nhạc, còn có sự giản dị, sự khiêm tốn và lòng chân thành, ba đức tính cao quý hội tụ nơi một con người chân tài Trịnh Công Sơn.

Người ta viết về Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ của tình yêu, của phận người long đong, của tình yêu quê hương tan rã, của nhạc phản chiến. Nhưng, nếu có thứ nhạc phản chiến thật sự trong nhạc Trịnh, theo tôi, để được công bẳng và trung thực hơn thì nên hiểu phản chiến theo mô thức Trịnh Công Sơn. Bởi hình như trong hầu hết những nhạc phẩm của Sơn, người ta không thấy một từ nào gọi là chống chiến tranh, được biểu lộ một cách minh thị, được phát biểu một cách cụ thể. Thực tế người ta chỉ bắt gặp những lời kêu than thống thiết của anh về niềm đau nỗi khổ của những bà mẹ, của những đứa con, của bạn bè, gây nên bởi cuộc chiến ngay trên quê hương, do ai đó bày ra mà những đứa con cùng mẹ Việt Nam phải gánh chịu :

Ôi gian nan đời nước nhỏ
Sao đau thương nhiều lắm thế.

(Quê hương Đau Nặng)

Khi đề cập đến vấn đề hòa bình và chiến tranh, nhất là chiến tranh Việt Nam, người ta thường so sánh Phạm Duy với Trịnh Công Sơn. Về vấn đề này, quan điểm và thái độ của Phạm Duy rạch ròi đen trắng: “Cô nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù hay người chiến sĩ dừng chân trên cầu biên giới, ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ người mẹ già, chờ con lúc canh khuya, người con đã ra đi… vì nước hay Ta muốn thét cho vỡ tung lòng ngực, vì say sưa tình thân thiết Vệ quốc đoàn!” Một Phạm Duy dấn thân rạch ròi.

Trái lại, thái độ Trịnh Công Sơn mơ hồ hơn, lưng chừng, chỉ biết kêu than và nguyện cầu cho hòa bình về lại trên đất mẹ Việt Nam :

Đường anh em sao đi hoài không tới
Đường văn minh xương cao cùng với núi
Đường lương tâm mênh mông hoài bóng tối
Trái đau thương cho con mới ra đời.

(Hãy Nhìn Lại – Phụ Khúc Da Vàng)

Trong mô thức trên,ngưởi ta thường bắt gặp những cặp đối hợp nghĩa là những phạm trù lưỡng tính (Dualité) gồm hai yếu tố khó dung nạp nhau; nhưng lại trói buộc nhau như: ngày với đêm; vui với buồn; hạnh phúc với khổ đau; hòa bình với chiến tranh, Âm với Dương — đối lập nhưng nó lại đi cặp, bổ sung cho nhau — Trịnh Công Sơn chỉ đề cập đến một vế, vế hòa bình: mong ước hòa bình, kêu gọi hòa bình được lập lại trên quê hương. Có lẽ trong ý nghĩa chỉ trăn trở, mong ước hòa bình, không một lời đụng chạm đến chiến tranh mà người ta gọi dòng nhạc nầy của Sơn là nhạc phản chiến và tôi xin phép được gọi tên là phản chiến theo mô thức Trịnh Công Sơn như đã nói trên đây: mơ ước, trang trọng cái này cũng có nghĩa là chán ghét xem nhẹ cái kia, giống như nhận định của họa sĩ Bữu Chỉ và của Giáo sư Đặng Tiến ở Paris, tuy mỗi người có một cách gọi tên khác nhau. Để cho vấn đề được đơn giản và dễ hiểu, thiết tưởng ta nên mượn câu nói nầy của GS Đặng Tiến, “Gọi cách khác, (ca khúc phản chiến) là ca khúc tranh đấu cho hòa bình, tuy dài dòng mà vẫn không đủ ý.”

Nói như thế là đã đủ . Vì vậy ở đây, tôi xin được phép tìm hiểu Trịnh Công Sơn dưới góc nhìn: Trịnh Công Sơn, một kẻ hát rong, hát lên những linh cảm (Presentiment) như anh đã từng bộc bạch, “Tôi chỉ là tên hát rong đi qua miền đất nầy để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo.”

Nói một cách ngắn gọn, hư ảo là lãng đảng mơ hồ, là không thật hay có thật mà giờ đây ở nơi nầy, vì một lý do nào đó, ta không thấy được bản chất của nó mà phải chờ cho đến khi có một điều kiện nào đó về không gian và thời gian thích hợp xảy ra thì ta mới thấy được bộ mặt thật xấu xí của nó, được ngụy trang dưới một lớp áo mỹ miều. Ngay từ năm 1972 chẳng hạn, bằng linh cảm của mình, Trịnh Công Sơn đã thấy:

Một ngày vinh quang. Một ngày tuyệt vọng
Rộn ràng khao quân chập chùng âm binh
Một đời vinh quang. Một đời tuyệt vọng
Một xác anh em là chiến lợi mình

(Một Ngày Vinh Quang, Một Ngày Tuyệt Vọng)

Dù cho là bên nào, người trong cuộc chiến nầy cũng là người anh em, con một nhà, một nhà Việt Nam, thế mà: Một xác anh em là chiến lợi mình! (chiến lợi phẩm của mình!)

Cái chất bi thảm lớn nhất ở đây là một chiến sĩ — dù cho là bên nầy hay bên kia — dùng thân xác người anh em mình như một chiến lợi phẫm để lập công!

Cái đặc tính nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn nầy, Trịnh Công Sơn đã linh cảm được và cũng đã lên tiếng :

Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ một rừng xương khô
Gia tài của mẹ một núi đầy mồ!

(Gia Tài Của Mẹ)

Ngày nay nếu ai đó mở một chuyến đi dọc theo chiều dài đất nước thì dễ chứng nghiệm điều Trịnh Công Sơn đã nói ra bằng những câu thơ những lời hát, tuy đơn giản nhưng có sức lay động tận tâm can con người còn chút ít lương tri :

Triệu người đã chết hãy mở mắt ra
Lật xác quân thù, mặt người Việt Nam trên đó

Đi trên những xác người: bao năm tháng những ai? Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trường sơn, Nghĩa Trang đường IX Nam Lào, Nghĩa Trang Ngã Ba Đồng Lộc anh em nằm đó. Nhưng cũng có người anh em hiện chọn lòng sông đáy biển làm quê nhà :

Đò xuôi Thạch hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm !

(Phan Bá Dương)

Càng đi vào khối đồ sộ những ca khúc của Trịnh, đó đây ta có thể bắt gặp những lời ca phản ánh gần như trọn vẹn hình ảnh quê hương ta ngày nay :

Người con gái Việt Nam da vàng
Yêu quê hương nay đã không còn!

hay:

Một ngày dài trên quê hương
Ngày Việt Nam hoang tàn quá
Một ruộng đồng trơ đất đỏ
Một đàn bò không luống cỏ.
Một ngày dài trên quê hương
Người Việt Nam quên mình sống
Một ngục tù nuôi da vàng
Người Việt nằm nhớ nước non.
Ngày thật dài trong âu lo
Rồi từng đêm bom đạn phá
Người Việt nhìn sao xa lạ
Người Việt nhìn nhau căm thù.
Một ngục tù trên quê hương
Người Việt Nam quên nòi giống
Người từng ngày xây uất hận

(Ngày Dài trên Quê Hương) .

Từ những gì được cho là linh cảm, bây giờ những điều linh cảm ấy có thể đã trở thành những lời tiên tri uyên áo sống động báo hiệu một sự thật hôm nay trên quê hương này!

Qua trích dẫn một số ca từ mà Trịnh Công Sơn cho là những linh cảm của mình về quê hương, đất nước và con người Việt Nam thì nay chúng đã trở thành những trực cảm đích thực về một Việt Nam thật buồn: Cả đất nước loang lổ da beo, rải rác đó đây, từ Bauxite Tây nguyên, Vũng Áng Hà Tỉnh, nhiệt điện Vĩnh Tân 2, bây giờ đến Lạch Dù, Phú Quý, Bình thuận, cá nuôi lòng chết tức tưởi :

Hãy mở mắt ra nhìn quanh đây
Những ai còn là Việt Nam
Hận thù giả dối
Hãy mở mắt ra nhìn kiếp tôi đòi
Nhìn ngày Việt Nam tăm tối!

(Những Ai Còn Là Việt Nam)

Chiều trên quê hương tôi
Ước bao nhiêu điều đã trôi qua
Có riêng em cuộc đời sẽ nhớ
Nét quê hương nghìn năm vẫn là

(Chiều Trên Quê hương Tôi)

Bài này Trịnh Công Sơn làm năm 1980, vào một buổi chiều nắng vàng héo úa trên thành phố Sài Gòn tàn phai như hình ảnh quê hương Việt Nam sau ngày 30/4/1975.

Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa, con đường và góc phố nơi nầy cũng là những con đường và góc phố cũ Sài Gòn; nhưng sao hôm nay tất cả bỗng trở nên xa lạ và lòng man mác buồn, có lẽ bởi một hiệu ứng tâm lý từ sự đổi thay ngoại cảnh khiến lòng người không khỏi bâng khuâng :

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Và Trịnh Công Sơn cũng cảm thấy Sài Gòn hôm nay trông rất lạ, lạ trong từng giọt nắng, lạ trong từng cơn mưa, lạ trong từng góc phố con đường :

Em hai mươi tuổi em là nắng
Em hai mươi tuổi em là mưa
Sài Gòn nắng mưa em ngày ấy
Còn là hạt bụi giữa hư vô
Em hai mươi tuổi em bây giờ
Chân qua phố phường phố ngẩn ngơ

Sài Gòn hai mươi mùa nắng lạ
Em mây hoang đường sớm chiều qua
Đi trong duyên cũ ngày xưa
Trong lòng thương nhớ cơn mơ lạ kỳ
Đi trong hạnh phúc quê nhà
Chuyện ngày xưa ấy bỗng là chiêm bao
Hai mươi giấc mộng xanh hồng quá

Em hai mươi tuổi như bài thơ
Sài Gòn nắng mưa em chợt đến
Làm lời mộng mị giữa thiên thu
En hai mươi tuổi em đâu ngờ
Năm xưa vui buồn chút phù du
Sài Gòn xua tan nghìn dấu lệ
Cho em bây giờ mắt tình đưa

(Hai Mươi Mùa Nắng Lạ, 1995)

Bằng những giai điệu êm dịu u buồn và những ca từ tình cảm bóng mướt, lãng mạn, dành cho những nhạc phẩm của mình, Trịnh Công Sơn như một chứng nhân thời đại, đã vẽ nên một bức tranh sống động, ghi dấu hình ảnh quê hương Việt Nam tan rã của mình y như Jiris Wolker đã nói, “Qua nhà thơ, qua người nghệ sĩ, người ta có thể nhìn thấy được tầm cỡ của thời đại mà ông ta sống.”

Như vậy, ta có thể khẳng định, với tư cách là một nghệ sĩ,Trịnh Công Sơn đã hoàn thành được sứ mệnh của mình, sứ mệnh của người làm Văn nghệ. Bởi nghệ sĩ luôn là chứng nhân đích thực và sinh động của thời đại mình sống.

Sài Gòn, Mùa Vu Lan 2016

Nguyễn Văn Chương

Đăng tải dưới sự cho phép của tác giả.

Xem thêm: