“Kinh dịch” ảnh hưởng như thế nào đến tư tưởng của Tưởng Giới Thạch?

Tưởng Giới Thạch nguyên tên là Thụy Nguyên, sinh ngày 31 tháng 10 năm 1887, tại trấn Khê Khẩu thành phố Phụng Hoá, tỉnh Chiết Giang. Ông là nhà chính trị và nhà quân sự nổi tiếng trong lịch sử thế giới, cũng là người đọc rất nhiều các sách cổ như “Kinh dịch”, “Trung dung”, “Lễ Ký”, “Luận Ngữ”… Chính những triết lý của các bậc thánh nhân này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của ông.

tưởng giới thạch
(Hình ảnh: Qua kknews)

Theo phả hệ, tổ tiên được xác nhận của Tưởng Giới Thạch là Ma Ha cư sĩ , người Hậu Lương thời Ngũ đại. Cụ nội của Tưởng Giới Thạch là Tưởng Kỳ Tăng, tự là Hoài Thịnh. Ông nội là Tưởng Tư Thiên, tự là Ngọc Biểu. Cha của ông là Tưởng Triệu Thông, tự là Túc Am. Tưởng Giới Thạch là thế hệ thứ 28 của họ Tưởng ở trấn Khê Khẩu, theo phả hệ, chữ lót của tên là “chu”, cho nên tên của ông ghi trong phả hệ là Tưởng Chu Thái. Lúc ban đầu, ông có tên là Tưởng Chu Kiện. Thuỵ Nguyên là tên lúc nhỏ của Tưởng Giới Thạch do ông nội của ông đặt cho, còn học danh là Tưởng Chí Thanh.

Nguồn gốc của tên “Giới Thạch” và “Trung Chính”

Ngay từ lúc lên 5 tuổi, Tưởng Giới Thạch đã bắt đầu theo học tại trường tư, lần lượt đọc các tác phẩm “Đại Học”, “Trung Dung”, “Luận Ngữ”, “Mạnh Tử”, “Lễ Ký”. Năm lên 9 tuổi, ông tiếp tục đọc các tác phẩm “Hiếu Kinh”, “Xuân Thu”, “Tả truyện”, “Thi Kinh”, “Kinh Dịch”…. và lĩnh ngộ được rất nhiều triết lý trong ấy.

Sự ảnh hưởng của “Kinh Dịch” đến tư tưởng của Tưởng Giới Thạch thể hiện ngay ở việc ông chọn danh và tự cho mình. Tưởng Trung Chính là tên được dùng sau khi ông đến chỗ Tôn Trung Sơn tại Quảng Đông vào năm 1918. “Giới Thạch” là bút danh được dùng khi ông phụ trách tạp chí Quân Thanh tại Nhật Bản. Về danh và tự này đều ngụ ý triết lý sâu xa, và có nguồn gốc từ “Kinh dịch”.

Trong 64 quẻ của “Kinh dịch” có quẻ Dự. Hào từ lục nhị ở quẻ Dự trong “Kinh dịch” có ghi: “Giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát”, ý tứ của quẻ dịch này nghĩa là, tâm chí và hành vi trong cuộc sống hàng ngày, kiên định, vững như bàn thạch, không trầm mê hưởng lạc cả ngày, đây là điều tối may mắn. Tưởng tiên sinh đã chọn dùng ý cảnh tốt đẹp của quẻ này để lấy tên “Giới Thạch” và “Trung Chính” cho mình.

Ngoài ra, cũng có một thuyết pháp: Lão Tử từng nói, binh quá mạnh thì dễ bị diệt vong, cây quá cứng thì dễ bị gãy. Các học giả Nho học đời sau đem những lời này của Lão Tử dung hợp với học thuyết Nho gia: từ cương hoá nhu, từ nhu hoá cương, ngoài nhu mà không giữ lấy nhu, ngoài cương mà không giữ lấy cương, nắm hai đầu mà giữ lấy chính giữa là đạo trung chính an toàn nhất. Chính từ tinh thần này, ông đã dùng tên “Giới Thạch” và “Trung Chính”.

Đầu năm 1923, lúc rảnh rỗi trên đảo Cổ Lãng, ông từng viết qua 4 chữ lớn “Kỳ giới như thạch” (cương trực, khí phách như đá), đồng thời cho khắc tại sườn núi ở bên trái đình Canh Y. Điều này phản ánh lòng yêu thích của ông đối với danh và tự của mình, đồng thời cũng phản ánh sự truy cầu tư tưởng về ngụ ý trong danh và tự của ông. Đối với học thuyết “dương chuyển âm, cương chuyển nhu” của Nho học, Tưởng Giới Thạch lãnh hội hoàn toàn và vận dụng thành công.

Tưởng Giới Thạch còn rất sùng bái Lý học gia Vương Dương Minh đời nhà Minh và Tăng Quốc Phiên, người sáng lập Tương quân đời nhà Thanh. Lúc cách mạng Tân Hợi, ông đã đọc ký cuốn “Vương Dương Minh toàn tập” và “Tăng Văn Chính gia thư”. Ông nghiên cứu tư tưởng của hai người này và đã chịu ảnh hưởng sâu sắc. Ông đem học thuyết của họ xem là “kiểm thân chi pháp” (pháp để kiểm điểm lại bản thân) và “hành động chỉ nam” (căn cứ để nhận rõ phương hướng hành động).

Tưởng Giới Thạch tin vào “Kinh dịch”

tưởng giới thạch
(Hình ảnh: Qua paoshouji.com)

Việc Tưởng Giới Thạch yêu thích nghiên cứu thuật số trong “Kinh Dịch” là điều rất nhiều người biết. Trước lúc lâm chung, ông từng nói rằng: “Thị phi thẩm chi vu kỷ, hủy dự nhâm chi vu nhân, đắc thất thủ chi vu sổ.” Câu này ngụ ý nói, trên thế giới thị thị phi phi là vô cùng phức tạp, hết thảy đều phải dựa vào bản thân mình suy nghĩ cẩn thận mà phân biệt ra. Sau đó, phải dựa vào tư duy phân tích của bản thân mà quyết định con đường đi cho chính mình, việc nào nên làm, việc nào không nên làm. Sau khi trải qua việc suy xét lựa chọn con đường để làm, trong xã hội tất nhiên sẽ có người tán dương nhưng cũng sẽ có người phỉ báng. Đối với điều này, bản thân phải bình tĩnh, mặc cho người bình luận. Về phần sự nghiệp thành công hay thất bại, chỉ có thể được quyết định bởi số mệnh (thuật số, vận mệnh, quy luật tự nhiên).

Từ những lời này có thể thấy, những triết lý trong “Kinh dịch” ảnh hưởng rất sâu sắc đến tư tưởng của Tưởng Giới Thạch. Không ít nhà sử học đánh giá rằng, sau khi đến Đài Loan, Tưởng Giới Thạch từng bị rất nhiều người châm chọc, chế giễu nhưng chính dựa vào những triết lý trong “Kinh dịch”, ông đã tìm được con đường giải thoát cho tâm linh của mình.

Trong cuộc đời mình, Tưởng Giới Thạc đọc rất nhiều lần cuốn “Kinh dịch”. Đối với những triết lý trong “Kinh dịch”, Tưởng Giới Thạch nghiên cứu rất kỹ lưỡng và tin tưởng hoàn toàn. Bởi vậy, mỗi khi trong vận mệnh gặp phải một sự tình nào đó gây lận đận trắc trở, ông lại trở về quê Khê Khẩu, Phụng Hóa ở. Hơn nữa, ông còn thường thường lên chùa Tuyết Đậu ngủ lại để lấy lại phúc khí và điềm lành của tổ tiên.

Trong sự nghiệp của mình, Tưởng Giới Thạch rất nhiều lần mất chức về quê, tuy nhiên sau mỗi lần trở về Phụng Hóa như vậy, người ta lại thấy ông leo lên một địa vị cao hơn cũng có lẽ là vì nguyên nhân này. Cũng chính nhờ điểm tựa tâm linh ấy mà Tưởng Giới Thạch ngã rồi lại có thể đứng dậy đi tiếp.

“Kinh dịch” không chỉ có ảnh hưởng sâu sắc đến Tưởng Giới Thạch mà từ trước đó đã có ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa trong gia đình họ Tưởng. Xét về phong thủy, nơi gia đình học Tưởng sinh sống, cũng chính là nơi Tưởng Giới Thạch được sinh ra có hoàn cảnh địa lý rất tốt đẹp, được coi là một nơi bảo địa. Nếu nhìn ra xa, đây là nơi đầu gối Tứ Minh Sơn, lưng dựa vào Thiên Đài Sơn, chân đạp Quát Thương Sơn, mặt hướng ra biển Đông, tay nắm Tượng Sơn cảng. Nếu nhìn hẹp hơn, Tuyết Đậu Sơn giống như một con rồng bơi tới Khê Khẩu, rồng lượn vòng ở Khê Khẩu, miệng ngậm châu, đó là biểu tượng của điềm đại cát, ở Khê Khẩu sẽ có quý nhân.

An Hòa (dịch và t/h)

Xem thêm: