Khổng Tử: Người cai trị ngay chính, thiên hạ sao dám không chính?

Khổng Tử giảng rằng: “Chính giả, chính dã. Tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính?” Ý nói, người cầm quyền, người cai trị thiên hạ phải chính. Lấy chính dẫn dắt người thì thiên hạ ai dám không chính? 

quân vương
(Hình minh họa: Qua cceduy)

Ông còn giảng rằng: “Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo, thảo thượng chi phong, tất yển.” Nghĩa là, đạo đức của người quân tử giống như gió, đạo đức của kẻ tiểu nhân giống như cỏ, gió thổi hướng nào, cỏ rạp theo hướng đó.

Chính hay không là ở người nắm quyền, một người nhân đức, một nước nhân đức, một người không tranh, cả nước không tranh, một kẻ tham lam tàn bạo, một nước rối loạn. Đây gọi là một lời mà hỏng việc, một người mà định quốc.

Những minh quân thời xưa đều biết rõ đại nghĩa trị quốc này nên đều tu dưỡng thiện tính thiên phú của bản thân, tu thành quân tử đại đức xứng với Thiên Địa. Đây được coi là nhiệm vụ chính yếu của người cầm quyền, không dám có chút bê trễ.

Nhưng, Thiên Địa là không lên tiếng, cái đạo của Thiên và cái đức của Địa là nhìn không thấy, sờ không được, cho nên, con người thế gian có ai có thể không mắc lỗi? Hơn nữa đức hạnh người quân tử lại liên quan đến đạo đức của Trời đất, liên quan đến đại sự quốc kế dân sinh. Vậy nên, người quân tử, bậc minh quân xưa khi mắc lỗi, họ đã làm thế nào?

Thứ nhất, Thiên tử tự tra xét lại bản thân mình, chủ động sửa chữa lỗi lầm. Từ xưa đến nay người quân tử và minh quân đều có hành động trên.

Thứ hai, quần thần can gián, quân vương tiếp thu lời can gián và sửa sai. Như Trâu Kỵ châm biếm Tề Vương nghe lời can ngăn, Lý Tư dâng “Gián trục khách thư”, Tần Vương nghe can gián, thu lại lệnh truy bắt khách. Vào thời Đường Thái Tông, Đại thần Ngụy Chinh dâng “Thập Tư sớ”, Thái Tông đặt tại bàn làm việc, lấy sách làm bình phong, phong là châm ngôn… Triều đình còn có các gián quan chuyên trách chỉ ra những sai sót của Quân vương.

Thứ ba, Trời hiển lộ thiên tượng, báo điềm lành, cảnh báo điều ác. Thiên địa không lên tiếng, những hiện tượng kỳ dị đó con người cần phải giải đoán. Cho nên trong quy chế của các Hoàng đế ngày xưa đều có các chức quan như Thái Sử Lệnh hoặc Ti Thiên Giám, Khâm Thiên Giám, phụ trách việc quan sát thiên tượng biến hóa, lý giải thiên mệnh, thiên ý, làm căn cứ cho việc triều chính được mất, cải cách chính sự của các bậc Đế vương.

Thứ tư, những hiện tượng kỳ lạ của Trời Đất mà quân thần bỏ sót, hoặc rà soát thấy mà không sửa, khiến Trời đất phẫn nộ, sẽ dẫn đến thiên tai nhân họa, hoặc núi long đất lở, lũ lụt, hạn hán, hoặc thiên tai tuyết lạnh… Dùng những hình phạt trên Thiên thượng nhằm cảnh cáo hạ giới, khiến các bậc Đế vương thức tỉnh mà tự ăn năn hối lỗi, điều chỉnh lại phương hướng, chính sách cai trị.

Thứ năm, nếu Trời Đất phẫn nộ mà vẫn không thức tỉnh, ăn năn, thậm chí còn khiến con người và thần linh cùng phẫn nộ, Thiên lý bất dung, sẽ xuất hiện lòng dân căm phẫn, tai họa trỗi dậy, thiên hạ đại loạn, không thể trị được, người mất, triều đình đi đến diệt vong.

quân vương
(Hình minh họa: Qua kknews)

Các vị minh quân thời xưa cho rằng: Những hiện tượng bất thường như thiên tai nhân họa đều là một hình thức trừng phạt khi con người thế gian rời xa khỏi những quy phạm về hành vi, đạo đức mà Thiên thượng quy định cho con người, lấy đó để cảnh tỉnh con người nên quay trở về Thiên đạo. Việc thiên hạ rời xa chính đạo, thì đầu tiên là tội do các bậc Đế vương.

Thời xưa, người ta tin rằng vua là con của Trời (Thiên tử), được cử xuống thay Trời quản nhân loại. “Suất thiên hạ dĩ đạo” (Lấy đạo thống lĩnh thiên hạ) là chức trách mà Thiên thượng quy cho Thiên tử. Chính là cái gọi là “Quân quyền Thần thụ” (Thần trao quyền cho vua).

Thuở ban sơ, Vua Nghiêu nhường lại ngôi vị cho vua Thuấn đã từng dặn dò Ngu Thuấn rằng: “Hỡi vua Thuấn! Ông đã mang trên mình Thiên mệnh rồi. Ông phải nắm vững đạo trong đó, nếu nhân dân lâm cảnh lầm than, lộc Trời ban của ông sẽ mãi mãi kết thúc.” Về sau, khi Ngu Thuấn nhường ngôi vị cũng nói lại lời này truyền cho Hạ Vũ.

Nói cách khác, Vua là sứ giả của thần linh nơi Thiên thượng. Cho nên Hoàng Đế xưa nay được tôn xưng là “Thiên tử”, là con của Trời. Hoàng đế có vinh diệu lớn nhất trên thế gian, đồng thời cũng phải gánh vách trách nhiệm lịch sử trọng đại nhất. Bảo hộ dân chúng hạ giới tránh khỏi tổn hại là thiên chức của Thiên tử. Nhân dân nghèo khó, lầm than là cái tội của Thiên tử. Cho nên, Thiên tử ắt sẽ bị Trời trừng phạt.

Các vị minh quân đời sau đều nghiêm cẩn tuân theo di huấn của vua Nghiêu vua Thuấn, coi an nguy của dân chúng, của thiên hạ là trách nhiệm của bản thân. Các bậc Đế Vương đầu tiên phải tự kiểm điểm sai sót của mình, công bố cho Thiên thượng và vạn dân thiên hạ rằng: “Vạn phương hữu tội, tại dư nhất nhân. Dư nhất nhân hữu tội, vô dĩ nhĩ vạn phương” (ý nói trăm họ có tội đều do một mình ta. Mình ta có tội, không thể giáng tội cho trăm họ).

Ví như khi Thương Thang cầu Trời mưa lúc hạn hán có khấn với Thiên thượng rằng: “Trẫm cung hữu tội, vô dĩ vạn phương; vạn phương hữu tội, tội tại Trẫm cung”. Nghĩa là, thân Trẫm có tội, không thể giáng cho trăm họ; Trăm họ có tội, tội cũng tại thân Trẫm.

Chu Vũ Vương còn nói rằng: “Bách tính hữu quá, tại dư nhất nhân”. Nghĩa là người trong thiên hạ có tội, tội đều tại mình ta. Mình ta có tội, đừng vì vậy mà liên lụy đến trăm họ trong thiên hạ. Nói cách khác, người trong thiên hạ có tội đều do ta không làm tròn chức trách, cầu xin Thiên thượng giáng tội lên mình ta, đừng làm liên lụy đến muôn dân thiên hạ.

quân vương
(Hình minh họa: Qua wemedia.ifeng)

Cách kiểm điểm sai sót này của các Hoàng đế xưa không phải chỉ dừng lại ở lời nói đầu môi, mà là sự phản tỉnh, sám hối xuất phát từ nội tâm. Hơn nữa còn phải thực sự sửa chữa, quy chính lại bằng hành động thực tế. Quan niệm này được hậu thế kế thừa là hành động điển hình nhất mà chính các hoàng đế tự hạ “Tội kỷ chiếu” (Chiếu tự trách mình).

“Tội kỷ chiếu” là một loại khẩu dụ hoặc văn bản mà các Hoàng Đế thời xưa tự phản tỉnh hay kiểm điểm sai sót, sai lầm của bản thân. Các Hoàng đế quy hết thành tích đạt được cho muôn dân, còn những sai sót mắc phải quy về bản thân. Có người phải chịu tổn hại, liền lùi lại tự trách mình. Càng nhiều người hơn chịu tổn hại, liền hạ “Tội kỷ chiếu”, công khai nhận sai sót với thiên hạ và lập tức sửa đổi.

Những năm cuối thời Hán Vũ Đế, do chiến tranh liên miên, xa hoa lãng phí, ngao du thưởng ngoạn vô độ, xây thành đắp lũy, kích động mâu thuẫn trong xã hội, nguy hiểm xảy ra khắp nơi, quốc gia nguy nan ngàn cân treo sợi tóc. Hán Vũ Đế tỉnh ngộ và suy xét lại bản thân, khẩu dụ cho các quần thần, truy xét lại những sai sót của bản thân, và lập tức sửa đổi, điều chỉnh lại chính sách theo kiến nghị của các vị đại thần.

Hơn nữa, Hán Vũ Đế còn công khai ban hành cuốn “Luân Đài Tội Kỷ Chiếu”, thừa nhận sai sót trong chính sách của mình. Ông tuyên bố những sai lầm trước kia đều do lỗi bản thân vua và vô cùng hối hận vì những việc làm của mình trước kia. Từ đó, mâu thuẫn xã hội được hòa hoãn, cứu vớt được cục diện nguy nan lúc đó, giúp chiều Hán tránh khỏi vận mệnh quốc gia bị diệt vong.

quân vương
(Hình minh họa: Qua kknews)

Vào thời Hoàng đế Đường Thái Tông, Đại tướng Đảng Nhân Hoằng bị tố cáo vì tội tham ô, theo pháp luật Đại Lý Tự ban lệnh tử hình. Đường Thái Tông thấy ông là một nhân tài hiếm có, không nỡ giết, nên hủy bỏ phán quyết của bộ hình, sửa thành lưu đày tại biên cương.

Sau đó, Đường Thái Tông trong lòng rất bất an, thấy rằng mình đã dùng tình mà xử lý công việc, không coi trọng pháp luật quốc gia. Ông thấy mình không nên làm như vậy. Cho nên, ông triệu các đại thần đến cung vàng điện ngọc, lòng nặng trĩu tự kiểm điểm với các đại thần rằng: “Luật pháp quốc gia, là vua nên đi đầu chấp hành, không được mang tư niệm, không chịu ước chế của pháp luật, thất tín với dân. Ta che trở cho Đảng Nhân Hoằng, quả thực là lấy tư tâm mà làm loạn quốc pháp.”

Thế là, Đường Thái Tông viết một bức “Tội kỷ chiếu”, kiểm điểm bản thân: “Về việc xử lý chuyện Đảng Nhân Hoằng, ta đã mắc phải ba sai sót lớn: Một là không biết nhìn người, tin dùng nhầm Đảng Nhân Hoằng. Hai là lấy tư tâm làm loạn pháp, bao che cho Đảng Nhân Hoằng. Ba là thưởng phạt bất minh, xử lý không công bằng.” Sau khi Đường Thái Tông tuyên đọc cho các đại thần, liền hạ lệnh công bố cho thần dân cả nước “Tội Kỷ Chiếu” của ông.

Vào thời Võ Tắc Thiên, tại Thiên Đảng, Minh Đảng xảy ra hỏa hoạn lớn. Võ Tắc Thiên đã áp dụng ba phương pháp: Một là “Cáo Thái Miếu”. Đến Thái Miếu tế tổ tông, tự kiểm điểm với tổ tông, báo cáo sự việc đã xảy ra. Hai là “Thủ chiếu Trách Cung” (Tự viết chiếu trách bản thân). Võ Tắc Thiên tự mình viết cuốn “Tội Kỷ Chiếu”, trách móc bản thân, thể hiện rằng hỏa hoạn là do sai lầm của bản thân gây ra. Thứ ba là yêu cầu văn võ bá quan trong ngoài triều từ chức cửu phẩm trở lên dâng sớ lên hoàng thượng, dâng lời can gián hoặc nêu ra kiến nghị.

quân vương
(Hình minh họa: Qua youtube)

“Tội Kỷ Chiếu” đã trở thành một truyền thống, chuyện này kỳ thực khởi nguồn từ thời vua Nghiêu, vua Thuấn vua Vũ, vua Thang, và được các bậc quân vương nhân đức đời sau kế tục, trở thành một trong những hình thái quan niệm rất quan trọng lấy đức trị quốc thời xưa.

Hoàng đế thời xưa hạ “Tội kỷ chiếu” nhiều không đếm xuể. Những vị Hoàng đế dám hạ “Tội kỷ chiếu”, thông thường đều làm nên công trạng. Ví như Hán Văn Đế, Hán Vũ Đế, Tấn Vũ Đế, Lương Vũ Đế, Trần Văn Đế, Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế, Bắc Chu Vũ Đế, Đường Thái Tông, Đường Cao Tông, Võ Tắc Thiên, Tống Thái Tông, Tống Nhân Tông, Minh Thái Tổ, Minh Thành Tổ, Thanh Thế Tổ, Thanh Thánh Tổ v.v. đều từng hạ “Tội kỷ chiếu”. Hơn nữa trong đó rất nhiều Hoàng đế không chỉ hạ chiếu một lần.

Hoàng đế tự hạ “Tội kỷ chiếu”, dù cho đứng ở phương diện nào cũng đều thể hiện rõ được đức hạnh và trách nhiệm của các bậc Đế vương. Thứ nhất, đó là yêu dân, bảo vệ dân là thiên chức của Hoàng đế, nếu không thể bảo vệ được dân khiến dân chúng cơ cực nghèo khó, lộc Trời của Hoàng đế sẽ bị Thiên thượng tước bỏ mãi mãi. Thứ hai, chỉ có Thiên tử có quyền lực cao nhất mới có thể triển hiện được khí chất mà Trời ban cho Thiên tử và trở thành một mặt của thiên tính thống lĩnh vạn dân. Đây cũng là điều khiến muôn dân lấy Thiên tử làm gương “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân” (Mỗi ngày ta tự kiểm điểm bản thân ba lần).

Cho nên,“chính giả, chính dã. Tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính?” Người cầm quyền, bậc Quân vương phải chính. Lấy chính dẫn dắt người, ai dám không chính? Thật là có đạo lý.

An Hòa (dịch theo sự cho phép của tác giả)

Xem thêm: