Bài học lịch sử: Trọng dụng người tài đức thì an, đánh mất người tài đức thì loạn

Trải qua rất nhiều sự tồn vong của các triều đại trong lịch sử, cổ nhân đúc kết ra một nguyên tắc: “Đất nước có người tài đức thì an bình, đánh mất người tài đức thì thiên hạ loạn lạc”. Thời đại của Đường Huyền Tông vừa là thời đại “Khai Nguyên thịnh thế” và cũng là thời “Loạn An Sử” trong lịch sử, là một ví dụ điển hình của nguyên tắc này.

tài đức
(Hình minh họa: Qua kknews.cc)

Đất nước có tướng tài đức thì an bình, hưng thịnh

Đường Huyền Tông Lý Long Cơ, khi còn nhỏ có chí lớn, từng lời nói từng việc làm đều rất có chủ kiến và sáng suốt. Nhờ bình định được cuộc nổi loạn của nhà họ Vi mà được lập làm Thái tử.

Sau khi lên ngôi vua, việc đầu tiền ông muốn làm là quyết tâm diệt trừ bè đảng của Thái Bình công chúa chuyên quyền bạo ngược. Ngoài ra, ông còn xử lại các nghi án để giải oan cho những người vô tội. Ông đổi niên hiệu thành Khai Nguyên để tỏ rõ mong muốn tự mình chăm lo việc nước, quyết tâm phục hưng sự nghiệp vĩ đại của triều nhà Đường.

Lúc ấy tác phong và uy tín của quan lại triều đình rất hỗn loạn, triều chính thì hủ bại, cho nên ông liền tỏ ý muốn chọn người hiền tài làm Tể tướng. Mọi người đều nói ông “Có con mắt sắc sảo biết chọn người hiền đức”. Các vị Tể tướng tài giỏi nổi tiếng của triều đình như Diêu Sùng, Tống Cảnh, Trương Cửu Linh, Hàn Hưu đều là do ông tự mình tuyển chọn và đề bạt bổ nhiệm.

Diêu Sùng là người làm việc quyết đoán. Ông bởi vì tâu trình lên Hoàng đế Đường Huyền Tông mười điều kiến nghị có ích cho đất nước nên được coi trọng, được phong làm Tể tướng. Trong mười điều kiến nghị ấy, có: Tạo điều kiện để mọi người được tự do ngôn luận và phát biểu ý kiến xây dựng, ban thưởng xứng đáng cho các vị đại thần chính trực, và chớ lấy quyền hành mà mưu lợi cá nhân. Hoàng đế Đường Huyền Tông đều nghe theo những lời đề nghị của Diêu Sùng.

Sau Diêu Sùng đến Tống Cảnh làm Tể tướng. Tống Cảnh cũng rất coi trọng việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhân tài. Mặc dù ông nắm giữ quyền cao chức trọng trong triều đình, nhưng không bao giờ vì tình riêng mà làm trái pháp luật. Ngược lại, đối với người thân thích của mình, ông có yêu cầu còn nghiêm khắc hơn nữa.

Một lần, trong cuộc tuyển chọn người làm quan cho Bộ lại, một người chú họ của ông đã nói với quan chủ trì việc tuyển chọn về mối quan hệ của mình với Tống Cảnh, hy vọng nhờ thế mà được chiếu cố đặc biệt. Chuyện này đến tai Tống Cảnh, chẳng những ông không nói tốt cho người chú họ mà còn bảo Bộ lại không được để cho ông ta làm quan.

tài đức
(Hình minh họa: Qua pinterest.com)

Hoàng đế Đường Huyền Tông không chỉ biết chọn lựa mà còn biết kính trọng người tài đức. Diêu Sùng, Tống Cảnh một lòng lo cho đất nước, Đường Huyền Tông xem họ cũng giống như các danh thần Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối nổi tiếng những năm đầu thời đại nhà Đường. Mỗi lần gặp họ, Hoàng đế Đường Huyền Tông đều đứng dậy tiếp đón, lúc họ rời đi thì ông cũng đích thân ra tiễn biệt.

Trương Cửu Linh được người đời gọi là “Tể tướng áo vải”, cũng chính là nhờ tài đức xuất chúng của bản thân mà được Hoàng đế Đường Huyền Tông trọng dụng. Trương Cửu Linh sau khi làm Tể tướng cũng giống như Đường Huyền Tông, trọng người tài đức chứ không quan tâm đến xuất thân và gia thế sang hèn.

Ông luôn luôn chủ trương cần phải công bằng trong việc tuyển chọn người tài, chú trọng vào đức hạnh. Đồng thời, đối với những lỗi lầm của Hoàng đế Đường Huyền Tông, ông cũng kịp thời chỉ ra và khuyên can, chứ không vì ơn đề bạt mà giấu diếm sự thật.

Thời đầu Hoàng đế Đường Huyền Tông bởi vì giỏi nhìn người và chọn người hiền đức làm quan, còn hết lòng trọng dụng họ, cho nên xung quanh Hoàng đế lúc ấy tụ tập rất nhiều người hiền tài.

Lúc ấy trong nước, tình hình chính trị rất sáng sủa, xã hội yên ổn, kinh tế phồn vinh chưa từng có. Triều đại nhà Đường tiến vào thời kỳ cực cường thịnh, người đời sau gọi là “Khai Nguyên thịnh thế”.

Trong sử sách có ghi chép lại: Vào những năm Khai Nguyên ấy “Trong nước giàu có, giá gạo rất phải chăng. Trên đường cái có rất nhiều cửa tiệm phục vụ rượu thịt cho người đi đường. Bưu điện có nhiều con lừa chở thư, lính đưa thư đi hàng ngàn dặm mà không cần binh khí”.

Trong tác phẩm “Ức tích”, nhà thơ Đỗ Phủ có viết: “Nhớ thời Khai Nguyên thịnh vượng ấy, một thị trấn nhỏ cũng có đến hàng vạn gia đình. Kho lương thực của công hay của tư đều được chứa đựng đầy ắp”.

Đất nước mất người tài đức thì loạn lạc

tài đức
(Hình minh họa: Qua DlyaKota.Ru)

Giai đoạn sau, Hoàng đế Đường Huyền Tông càng ngày càng kiêu ngạo, càng ngày càng ưa thích nghe lời a dua xu nịnh, ham thích hưởng lạc, tin tưởng mù quáng và trọng dụng gian thần Lý Lâm Phủ và Dương Quốc Trung. Cuối cùng dẫn tới loạn An Sử, chấm dứt thời đại thịnh thế huy hoàng.

Lý Lâm Phủ rất rành về suy đoán tâm ý của Hoàng đế Đường Huyền Tông. Một lần, Hoàng đê Đường Huyền Tông muốn từ Lạc Dương về Trường An, nhưng Tể tướng Trương Cửu Linh nói thu hoạch vụ thu còn chưa hoàn thành xong, nếu mà đi như thế sẽ làm quấy rối dân chúng, ảnh hưởng đến việc sản xuất.

Thừa dịp lúc Trương Cửu Linh đã rời đi, Lý Lâm Phủ nói với Đường Huyền Tông rằng: “Trường An và Lạc Dương là Đông cung và Tây cung của bệ hạ. Bệ hạ muốn đi muốn về lúc nào tùy thích, không cần phải chờ đợi. Còn nếu gây trở ngại cho việc thu hoạch vụ thu của người nông dân, thì chỉ cần miễn thu thuế của họ là được.”

Đường Huyền Tông cao hưng liền theo ý của Lý Lâm Phủ cứ thế mà đi, lại còn càng ngày càng tin tưởng ông ta. Lý Lâm Phủ tìm cơ hội vu cáo hãm hại nhóm các đại thần Trương Cửu Linh, khiến Đường Huyền Tông bãi chức họ và đưa Lý Lâm Phủ lên thế chỗ.

Sau khi Lý Lâm Phủ lên cầm quyền thì đố kỵ người tài đức, kết bè kết đảng, bài trừ những người trái ý, hãm hại người tốt. Ông ta ngoài miệng thì lời ngon tiếng ngọt, nhưng trong lòng thì nham hiểm ác độc, “khẩu Phật tâm xà”.

Ông ta bịt miệng dư luận, có lần còn đe dọa các quan rằng: “Các ngươi bình thường chắc cũng đã từng thấy con ngựa dùng để tế lễ rồi chứ? Chỉ cần ngoan ngoãn theo lệnh làm việc, thì có thể được ăn bổng lộc của quan tam phẩm, đãi ngộ cao. Còn nếu mà hí vang, thì lập tức sẽ bị loại bỏ, đến lúc đó có hối hận cũng không kịp”.

Sau khi Lý Lâm Phủ chết thì Dương Quốc Trung lên cầm quyền, làm cho chính trị xã hội càng thêm đen tối rối ren hơn nữa. Đường Huyền Tông sủng ái Quý phi Dương Ngọc Hoàn, bỏ bê việc triều chính, cuộc sống vô cùng xa xỉ suy đồi. Dương Quốc Trung là anh của Dương Quý Phi, quyền thế không ai bằng. Ông ta đã là Tể tướng lại kiêm thêm hơn 40 chức vụ khác nữa, cả nhà họ Dương bắt đầu lên như diều gặp gió.

Dương Quốc Trung một tay che trời, làm hỗn loạn triều chính. Lúc trời mưa to ngập lụt, Đường Huyền Tông hỏi các quan về tình hình thiên tai, Dương Quốc Trung lại tìm một cây mạ giống to khỏe đưa cho Hoàng đế ngó xem, bảo rằng trời mưa to nhưng không có ảnh hưởng gì đến mùa màng.

Quan viên bên dưới báo cáo tình hình thiên tai, thỉnh cầu Hoàng đế cứu trợ. Dương Quốc Trung nổi khùng cách chức người ấy, ra lệnh phải trừng trị nặng tay. Từ đó về sau không ai còn dám nói lời chân thực nữa. Hắn kéo bè kết đảng, tham ô ăn hối lộ, không việc xấu nào không làm.

Khi các mâu thuẫn trong xã hội trở nên ngày càng gay gắt, thì nhóm quân phiệt An Lộc Sơn và Sử Tư Minh làm ra “Loạn An Sử”, đem quân làm phản lại nhà Đường. Bởi vì quân đội nhà Đường có quá nhiều tướng lĩnh ngang ngược tàn ác, cho nên quân đội không có chút nhuệ khí nào, không đánh mà tự chạy. Quân phản loạn rất nhanh chóng chiếm được một vùng đất rộng lớn, trực tiếp uy hiếp Đồng Quan – một “cửa lớn phía Đông” của kinh thành. Trong triều không ai dám đương đầu với quân địch, Đường Huyền Tông đành phải triệu mời vị tướng già đã về hưu là Ca Thư Hàn, tạm thời cầm 20 vạn quân ra tiền tuyến để trấn giữ Đồng Quan.

Ca Thư Hàn dâng sớ lên Hoàng đế tấu: “An Lộc Sơn không được lòng dân, chỉ cần chúng ta giữ vững thành trì, thì nội bộ của chúng sẽ phát sinh mâu thuẫn đấu đá lẫn nhau. Đợi đến khi chúng đã suy yếu, chúng ta mới xuất quân đánh dẹp, nhất định có thể chiến thắng. Bây giờ mà xuất binh chắc chắn sẽ rơi vào ổ phục kích của chúng”.

Lúc đó tại Hà Bắc xa xôi, Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật cũng dâng thư gấp cho Hoàng đế, nói: “Đồng Quan là nơi hiểm yếu, đủ để cố thủ vững vàng, không thể xuất kích. Đợi quân cứu viện tới, chỉ cần một trận là có thể thắng được”.

tài đức
(Hình minh họa: Qua sohu.com)

Nhưng, Dương Quốc Trung đố kỵ với quyền cao chức trọng của Ca Thư Hàn, lo sợ sau này ông sẽ thành chướng ngại bất lợi đối với mình, bèn nhiều lần xúi giục Đường Huyền Tông sai Ca Thư Hàn xuất quân. Đường Huyền Tông tin lời Dương Quốc Trung, liên tiếp hạ chiếu ra lệnh Ca Thư Hàn phải xuất binh. Ca Thư Hàn đành phải ra khỏi cửa đón đầu địch, quả nhiên trúng phải mai phục, quân Đường bại trận. Ca Thư Hàn bị bắt, bởi quyết không chịu đầu hàng nên bị An Lộc Sơn giết hại. Đồng Quan thất thủ.

Đường Huyền Tông kinh hoảng chạy trốn qua Tứ Xuyên. Trên đường đi tướng sỹ quân cấm vệ nổi loạn, yêu cầu Đường Huyền Tông phải hành quyết Dương Quốc Trung và Dương Ngọc Hoàn ngay lập tức, rồi tạ tội với đất nước. Đường Huyền Tông không còn cách nào khác, đành phải giết chết 2 anh em họ Dương. Lúc ấy triều Đường đã suy sụp, chiến loạn không ngừng, dân chúng lầm than cơ cực, đói khổ.

Nhìn lại lịch sử, việc có được hay đánh mất những người hiền tài có quan hệ mật thiết đối với sự an nguy của quốc gia. Bất kể là trong thời cuộc nào, chỉ cần người cầm quyền kiêu căng, thất đức làm bừa, gần kẻ tiểu nhân xa rời người quân tử, thì sớm muộn gì cũng đi đến diệt vong. Bởi vì vô đức chính là mối họa lớn nhất của con người.

Lấy lịch sử mà soi xét, lấy người mà soi xét, thì chỉ có chú trọng việc tu thân dưỡng tính, mới có thể phân biệt được đúng sai, đi theo cái thiện rời xa cái ác, không để cho người xấu có đất hoành hành, mới có thể đem lại thái bình thịnh vượng cho đất nước, tạo phúc cho muôn dân, được hậu thế ca ngợi.

An Hòa (biên dịch)

Xem thêm: