Tiến sĩ tuyển sinh trước và sau ngày 18/5 có những điểm gì khác biệt?

Quy chế mới về tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ có hiệu lực từ 18/5 đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng đối với cả nghiên cứu sinh và người hướng dẫn. 

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ với các tiêu chí đều được nâng cao hơn đối với người dự tuyển và người hướng dẫn nghiên cứu sinh so với quy định hiện hành. Theo đó, dự kiến tiến sĩ được tuyển sinh trước và sau ngày 18/5 sẽ có nhiều điểm khác biệt.

tien si
(Ảnh minh họa/dẫn qua edu-leaders.com)
Quy chế áp dụng từ ngày 18/5/2017 Quy chế ban hành năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2012
Về bằng cấp dự tuyển

– Bằng Ths, hoặc tốt nghiệp ĐH loại giỏi trở lên.

– 1 bài báo hoặc báo cáo liên quan đến lĩnh vực dự định nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành có phản biện trong thời hạn 36 tháng tính đến ngày đăng ký dự tuyển.

– Ít nhất 1 thư giới thiệu của nhà KH có chức danh GS, PGS hoặc học vị TSKH, TS có cùng chuyên môn hoặc am hiểu về lĩnh vực người dự tuyển dự định nghiên cứu.

– Bằng Ths, hoặc tốt nghiệp ĐH loại khá trở lên.

– 1 bài luận về dự định nghiên cứu, nêu lý do chọn đề tài, lĩnh vực nghiên cứu, kinh nghiệm, kiến thức, sự chuẩn bị, dự kiến việc làm sau khi tốt nghiệp, đề xuất người hướng dẫn.

– 2 thư giới thiệu của 2 nhà KH có học vị TS cùng chuyên ngành, hoặc chức danh GS, PGS; hoặc 1 thư giới thiệu của nhà KH và 1 thư giới thiệu của thủ trưởng đơn vị. Điều kiện: có ít nhất 6 tháng công tác hoặc cùng hoạt động chuyên môn với thí sinh.

Trình độ ngoại ngữ dự tuyển

– Một trong các chứng chỉ: TOEFL iBT từ 45 trở lên; IELTS (Academic Test) từ 5.0 trở lên; TOEIC từ 500 điểm trở lên. Thời hạn 24 tháng kể từ ngày cấp đến ngày đăng ký dự tuyển.

– Bằng tốt nghiệp hoặc bằng thạc sĩ ở nước ngoài, bằng tốt nghiệp ngoại ngữ trong nước.

 Quy chế 2009: Không có yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ.

Quy chế sửa đổi năm 2012: B1 hoặc bậc 3/6 trở lên theo Khung tham khảo châu Âu, thời hạn 2 năm kể từ ngày cấp đến ngày đăng ký dự tuyển. Hoặc bằng ĐH, Ths nước ngoài, hoặc bằng ĐH ngành ngoại ngữ.

Thời gian đào tạo

Gia hạn nhiều nhất 2 năm; tổng thời gian tối đa 5-6 năm. Hết hạn, kết quả học tập bị hủy.

– Trong 24 tháng đầu, nghiên cứu sinh (NCS) phải dành ít nhất 12 tháng học tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo.

–  Gia hạn nhiều nhất 2 năm; tổng thời gian tối đa 7 năm (84 tháng). Hết hạn, kết quả học tập bị hủy.

– Ít nhất 12 tháng tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo để thực hiện đề tài nghiên cứu.

 

Điều kiện bảo vệ luận án

 – Phải hoàn thành 6-9 học phần trình độ TS với khối lượng 14-20 tín chỉ.

– Tiểu luận tổng quan và 2-3 chuyên đề TS do thủ trưởng cơ sở đào tạo quyết định là những học phần bắt buộc.

– 2 bài báo về kết quả nghiên cứu của luận án, trong đó 1 bài đăng trên TCKH thuộc danh mục các tạp chí ISI-Scopus, hoặc 2 báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, hoặc 2 bài báo đăng trên TCKH nước ngoài có phản biện.

– Phải hoàn thành 2-3 chuyên đề TS với khối lượng 4-6 tín chỉ.

 Quy chế 2009: Bằng tốt nghiệp ĐH, Ths hoặc TS tại nước ngoài có ngôn ngữ đào tạo là tiếng Anh; đối với trong nước là tiếng Anh không qua phiên dịch; hoặc bằng ĐH ngành tiếng Anh.

Một trong các chứng chỉ: TOEFL iBT 61 điểm; TOEFL ITP (nội bộ) 500 điểm hoặc IELTS 5.0 trở lên hoặc tương đương; chuẩn B1, B2 của Khung Châu Âu Chung. Thời hạn 36 tháng kể từ ngày cấp đến ngày đăng ký dự tuyển.

Quy chế sửa đổi năm 2012: B2 hoặc 4/6 trở lên theo Khung tham khảo châu Âu, thời hạn 1 năm tính đến ngày trình hồ sơ bảo vệ luận án.

Hoặc bằng ĐH, Ths nước ngoài, hoặc bằng ĐH ngành ngoại ngữ.

Yêu cầu về người hướng dẫn

– Chức danh GS, PGS hoặc có bằng TSKH, TS có chuyên môn phù hợp với đề tài luận án hoặc lĩnh vực nghiên cứu của NCS.

– Có ít nhất 1 bài báo hoặc công trình KH đăng trên tạp chí thuộc danh mục các tạp chí của cơ sở dữ liệu ISI Thomson Reuters hoặc danh mục các tạp chí ISI-Scopus hoặc ít nhất một chương sách tham khảo có mã số chuẩn quốc tế ISBN do các nhà xuất bản nước ngoài phát hành;

– Hoặc 2 báo cáo đăng trên kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, hoặc 2 bài báo hoặc công trình khoa học đăng trên TCKH nước ngoài có phản biện thuộc lĩnh vực khoa học liên quan đến đề tài luận án của NCS.

– Người chưa có chức danh GS, PGS: tối thiểu 36 tháng làm công tác nghiên cứu khoa học hoặc giảng dạy kể từ khi có quyết định cấp bằng TS và thêm 1 bài báo hoặc công trình khoa học đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục các tạp chí ISI – Scopus.

– Có năng lực ngoại ngữ đáp ứng nghiên cứu và trao đổi khoa học quốc tế.

 – Chức danh GS, PGS hoặc có bằng TS. Người có bằng TS nhưng chưa có chức danh khoa học: thời gian tối thiểu để nhận NCS là 3 năm kể từ khi nhận bằng TS.

– Có các bài báo, công trình NCKH công bố trong 5 năm trở lại.

– Có tên trong thông báo của cơ sở đào tạo về danh mục các đề tài, hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu dự định nhận NCS vào năm tuyển sinh.

– Có khả năng đặt vấn đề và hướng dẫn NCS giải quyết vấn đề.

– Sử dụng tốt tiếng Anh cho nghiên cứu chuyên ngành và trao đổi khoa học quốc tế.

Nguyễn Quân

Xem thêm: